Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive

Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive

bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo đang được nhiều người tìm kiếm. Cùng 123DocX tìm hiểu ngay thôi


Bài viết về bảo vệ chủ quyền biển, đảo
   thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc. Biển, đảo từ lâu đã trở thành điểm nóng ở nước ta. Công tác phòng thủ biển, đảo luôn được đặt lên hàng đầu nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, ngăn chặn địch từ biển tấn công vào đất liền. Cùng nhau theo dõi ngay bây giờ nhé!

Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive

Bài học kinh nghiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Bài viết về bảo vệ chủ quyền biển đảo sẽ được nandaovadoisong.com.vn cập nhật trong bài viết này. Bằng cách này, bạn có thể dễ dàng hoàn thành bài thu hoạch và bổ sung thêm những kiến ​​thức bổ ích nhất. Các bạn cùng theo dõi nhé!

Bài văn nghị luận
về bảo vệ chủ quyền biển, đảo   
mẫu 1

HỎI:   Cảm nhận của anh / chị sau khi học các chuyên đề về kiến ​​thức QP-AN? Đề cập đến trách nhiệm và hành động cho bản thân trong tương lai.

BÀI TẬP
Lớp học nâng cao kiến ​​thức chuyên đề quốc phòng và an ninh nhằm tiếp thu, củng cố đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng về quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên về các vấn đề quốc phòng và an ninh. Tình hình chính trị, an ninh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay cho phép mỗi người lao động nâng cao trách nhiệm, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các chủ đề của khóa học đều rất thiết thực, phù hợp với tình hình đất nước trong tình hình mới. Trong đó tôi tâm đắc nhất những quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về an ninh quốc gia và củng cố nền an ninh nhân dân trong tình hình mới.
Hãy nêu ý kiến ​​của bạn về vấn đề này như sau:

A. NHẬN THỨC Gắn
bó mật thiết với nhân dân là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Khi vạch ra đường lối bảo vệ an ninh, trật tự, nguyên tắc này được cụ thể hóa thành phương hướng chiến lược: xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”. Để thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương đảm bảo an toàn tính mạng cho người dân, ngành Công an cần tập trung thực hiện đồng thời nhiều biện pháp.

Có thể thấy, ý thức lý luận, tư tưởng, quan điểm của Đảng về xây dựng nền an ninh nhân dân ngày càng được bổ sung và phát triển, có nội dung chủ yếu sau:

(1) Bảo đảm an ninh nhân dân, bảo đảm an ninh nhân dân là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân dưới sự lãnh đạo vô điều kiện, trực tiếp của Đảng. và chính phủ thống nhất.

(2) Thế trận an ninh nhân dân do nhân dân, vì nhân dân, vì nhân dân được xây dựng và giữ vững theo hướng toàn dân, toàn diện, trên cơ sở hệ thống chính trị cơ bản vững chắc, ổn định, phát triển bền vững. các mặt của đời sống xã hội.

(3) Phát huy sức mạnh vật chất (sức mạnh kinh tế), sức mạnh tinh thần (sức mạnh văn hóa – xã hội), sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh tổng hợp, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, sức mạnh bên trong và bên ngoài để tạo dựng và củng cố nền an ninh nhân dân.

(4) Quyền quyết định chủ yếu của cấp ủy công an các cấp về xây dựng và củng cố hệ thống an ninh nhân dân là Hội đồng, có nhiệm vụ tư vấn cho đảng và nhà nước ban hành chủ trương, đường lối, chính sách và đảm bảo an toàn cho người dân và đảm bảo an toàn cho người dân. ; phối hợp với các ban, bộ, ngành giải quyết phát động phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng và triển khai các đề án, phương án, kế hoạch và hoạt động của lực lượng an ninh các cấp, các ngành, các lĩnh vực nhằm đấu tranh phòng, chống các hành động xâm phạm an ninh, trật tự của đất nước.

(5) Kết hợp thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng nhân dân, thế trận lòng dân trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh của nhân dân.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về Công an nhân dân, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Điều 3, Khoản 10 chỉ rõ: “Công an là tổ chức và sự liên kết của các lực lượng an ninh. an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia ”; Nhiệm vụ tăng cường an ninh nhân dân và bảo đảm an ninh nhân dân được chỉ rõ tại Điều 16:

“đầu tiên. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ Tổ quốc, giáo dục, động viên cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và mọi người dân tham gia xây dựng địa phương, cơ sở, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện.

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia.

Xây dựng lực lượng an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng kế hoạch và tổ chức, triển khai lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

B. LIÊN HỆ TRÁCH NHIỆM, HÀNH ĐỘNG TRÁCH NHIỆM TRONG THỜI GIAN TIẾP THEO:
– Là một đảng viên, một nhà giáo, bản thân tôi xét thấy cần phải làm những việc sau đây để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

– Ra sức học tập, rèn luyện để trở thành công dân tốt, đảng viên tốt cống hiến cho đất nước.

Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng. Tránh xa những cám dỗ vật chất mà các thế lực phản cách mạng dụ dỗ, làm xói mòn lòng tin của chúng ta đối với Đảng, với cách mạng.

– Ủng hộ sự ổn định chính trị tư tưởng của CB-GV-NV nhà trường, đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ.

– Không ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định đường lối xã hội chủ nghĩa.

– Thường xuyên vận động, tuyên truyền giáo viên và học sinh nhà trường thực hiện đúng các chỉ đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.

– Thường xuyên học tập nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

– Thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao nhận thức và hành động thiết thực đối với công tác vận động quần chúng. Vận động người thân, học sinh chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, không tham gia các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lôi kéo làm suy yếu khả năng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Xác định và lên án các hiện tượng và hành động tiêu cực gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia cũng như tình đoàn kết với người dân địa phương nơi cơ quan đóng trụ sở.

Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive

Bài văn nghị luận
về bảo vệ chủ quyền biển, đảo mẫu 2

Câu hỏi  : Trong số các chủ đề bạn đã học, bạn quan tâm nhất đến chủ đề nào? Tại sao. Liên hệ thực tế địa bàn, đồng chí và nhiệm vụ của mình.

Trả lời:
Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đó là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm lịch sử. Khi có giặc ngoại xâm cũng như khi đất nước hoà bình thịnh trị, ông cha ta luôn chăm lo kế sách lâu dài, “sâu rễ bền gốc” luyện binh lúc thư nhàn: “ thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu”. Hay quân ở trong dân “ ngụ binh ư nông” sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta được phát huy cao độ trong chiến lược phát triển đất nước: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phát triển trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp chứa đựng nhiều yếu tố khó lường, đó là chiến lược “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.

Trong các chuyên đề được nghiên cứu trao đổi, thao luận, bản thân tâm đắc nhất chuyên đề 3: Phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Bởi vì:

Chiến tranh đã đi qua, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập tự do và đang từng bước vững chắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa song các thế lực thù địch tìm đang mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam nhằm triệt tiêu Đảng cộng sản và xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa .Âm mưu của địch là không đánh phá ào ạt bằng lực lượng vũ trang mà trá hình với che đậy dưới hình thức diẽn biến hoà bình , đây là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc dùng biện pháp phi vũ trang là chính, chủ yếu đánh vào tình cảm con người làm cho con người mất phương hướng , mất niềm tin, mất ý chí, phản bội Tổ quốc.

Tình hình thực hiện “Diễn biến hoà bình” và “bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc như thế nào?

Mục tiêu: Xoá bỏ CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Mục tiêu cơ bản là xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lê Nin thay thế bằng tư tưởng tư sản và xoá bỏ vai trò của Đảng Cộng Sản,trọng điểm là Việt Nam.

Nội dung chống phá: Toàn diện trên mọi lĩnh vực, trong đó lấy kinh tế làm mũi nhọn, lấy vấn đề dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ, lấy ngoại giao để hỗ trợ, lấy quân sự để răn đe trấn áp, mục đích chống phá nội bộ Đảng từ cơ sở đến Trung ương.

Biện pháp: Phi quân sự là chủ yếu. Thực hiện chống phá công khai và bí mật, với thủ đoạn mềm, ngầm chúng lợi dụng triệt để những sai lầm bên trong và coi trọng xây dựng lực lượng bên trong để lôi kéo tập hợp lực lượng, mua chuộc những cán bộ thoái hoá biến chất tạo dựng ngọn cờ bên trong tự diễn biến – hoài nghi trong nội bộ. Nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ “ diễn biến hoà bình”, “ bạo loạn lật đổ” để tạo ra quá trình “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hoá” từ trong nội bộ chúng ta: Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và nhân dân. Thủ đoạn đó diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vào mọi đối tượng trong đó tập trung trên một số lĩnh vực chủ yếu sau:

Chống phá về chính trị tư tưởng, văn hoá:

Trọng tâm là xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng làm tiêu tan nền tảng tư tưởng trong các tổ chức Đảng, tổ chức xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Xem thêm:  Bản cam kết đánh nhau mới nhất |Link tải GG drive

Phá vỡ khối đại đoàn kết của toàn dân, của các tổ chức chính trị-xã hội. Bằng cách xuyên tạc, chia rẽ, làm cho nội bộ ta không tin nhau, nghi ngờ lẫn nhau, gây rối loạn nội bộ. Nhằm dễ cài cắm những quan điểm mơ hồ, những phần tử cơ hội, thậm chí phần tử phản động, thực hiện kế hoạch “kén làm tổ”, “chui sâu, leo cao” để ngầm phá ta từ bên trong lâu dài.

Gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản hướng đến nếp nghĩ tư duy theo hướng đối lập đường lối, tư tưởng của Đảng.

Hoạt động phá hoại kinh tế:

Hiện nay chúng tập trung phá vỡ quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa của ta bằng nhiều thủ đoạn rất xảo quyệt, như việc lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư liên doanh, liên kết (nhất là qua các khâu: vốn, chuyên gia, kĩ thuật), tìm cách phủ định định hướng chủ nghĩa xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện: vừa khuyến khích, ca ngợi kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vừa tư nhân hoá dần dần làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.

Lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá ta:

– Vấn đề tôn giáo, dân tộc hiện nay luôn là mục tiêu kẻ thù hết sức chú trọng lợi dụng để chống phá.

– Về vấn đề dân tộc: Kẻ thù triệt để khai thác các mâu thuẫn giữa các dân tộc do nhiều nguyên nhân gây ra, để chia rẽ khối đoàn kết, tạo dựng những mâu thuẫn mới, kích động tư tưởng hẹp hòi dân tộc, đòi quyền tự quyết dân tộc chủ nghĩa, như việc xuyên tạc, kích động, mua chuộc, xúi dục một số dân tộc thiểu số đấu tranh Với Đảng, Nhà nước ta để đòi cái gọi là “độc lập quốc gia tự trị”.

Đặc biệt chúng chú trọng yếu tố tâm lí và sự dồn nén khó khăn về đời sống tinh thần, vật chất (nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây) để tạo dựng xu hướng bất bình với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

– Vấn đề tôn giáo: Chúng triệt để lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta, để truyền bá mê tín dị đoan và tư tưởng phản động chống chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng những phần tử phản động đội lết tôn giáo để hoạt động gây kích động, phá hoại, xúi giục giáo dân đòi đất xây nhà thờ, chùa chiền… để tập hợp, lôi kéo tuyên truyền kích động nhân dân, từng bước vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với nhân dân vùng có đạo, tiến tới nhen nhóm, cài cắm lực lượng và xây dựng tổ chức phản động chống Đảng và chế độ ta.

– Chống phá trên lĩnh vực quốc phòng an ninh:

Vô hiệu hoá lực lượng vũ trang nhân dân, chủ yếu là quân đội nhân dân và công an nhân dân, đây là lực lượng tập trung nhất bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Hoạt động chủ yếu của chúng nhằm phá vỡ hệ tư tưởng, tổ chức của quân đội và công an. Làm cho lực lượng này xa rời mục tiêu chiến đấu, rệu rã tổ chức; xói mòn về đạo đức, phẩm chất, lối sống… để dẫn tới giảm lòng tin vào Đảng, vào chế độ, mất phương hướng và thay đổi bản chất cách mạng của mình.

Tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội – công an, chia rẽ nội bộ, chia rẽ tình đoàn kết máu thịt quân đội và nhân dân, quân đội và Đảng…

Toàn bộ những hoạt động của chúng nhằm phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an “trung lập hoá quân đội và làm phai mờ biến đổi bản chất truyền thống cách mạng của quân đội – công an”, “phi chính trị hoá” quân đội – công an.

– Kích động, phối hợp hành động của lực lượng phản động trong nước và phản động ngoài nước:

Kẻ thù rất coi trọng lực lượng phản động trong nước, nhằm tạo dựng lực lượng trực tiếp chống phá ta từ bên trong, để liên kết các hội đoàn phản động ngoài nước, bí mật thành lập tổ chức phản động trong nước và liên kết hai lực lượng đó lại…

Tóm lại, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động dùng nhiều thủ đoạn, trên tất cả các lĩnh vực để chống ta. Chúng hết sức chú ý đẩy mạnh, mở rộng quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ trong nội bộ ta. Đồng thời với việc gây lình huống, tạo cớ để nhân danh các tổ chức quốc tế nhảy vào can thiệp vào công việc nội bộ của ta, kể cả can thiệp bằng quân sự. Chính vì vậy cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ càng trở nên phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi.

Để thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần có những phương thức, biện pháp đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình trên các lĩnh vực. Đó là:

Ổn định chính trị văn hoá:
– Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu.

– Tăng cường sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của chi bộ, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động ở chi bộ. Xây dựng củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, thực sự là của dân, do dân và vì dân.

– Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chống lại chiến lượt diễn biến hòa bình.

– Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt các chính sách xã hội.

Xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng con người Việt Nam cả về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn và lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có tâm hồn trong sáng, có tầm cao trí tuệ, giữ vững tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

– Trên lĩnh vực kinh tế:

– Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XNCH, không để nền kinh tế trì trệ đi chệch định hướng XHCN.

– Phát huy nội lực để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vai trò chủ đạo nền kinh tế nhà nước, thực hiện xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống nhân dân.

– Trên lĩnh vực tổ chức nhân sự:

– Thường xuyên chăm lo tổ chức Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, phát hiện kịp thời cá nhân có biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, nói xấu chế độ để chấn chỉnh giúp đỡ họ nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề, có ý thức bảo vệ nội bộ, bảo vệ tổ quốc XHCN.

– Củng cố các tổ chức quần chúng, các đoàn thể cách mạng hoạt động hiệu quả.

– Tăng cường quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nhân dân.

– Trên lĩnh vực ngoại giao:

– Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đảm bảo lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia.

– Nâng cao cảnh giác, hành động thận trong, tỉnh táo, không để rơi vào thế bị động.
Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo

– Đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo cho các bộ phận dân tộc. Phát huy bản sắc tốt đẹp của dân tộc, đề cao dân chủ, tôn trọng tập quán tự do tín ngưỡng, chống mọi hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, mọi hành vi lợi dụng tôn giáo, dân tộc gây rối trật tự, trị an tiếp tay cho địch.

– Trên lĩnh vực quốc phòng an ninh:

– Giữ vững quốc phòng an ninh quốc gia và bảo vệ toàn vẹn lãng thổ tổ quốc. Tiếp tục củng cố hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng thế trận phòng thủ ngày càng vững chắc.

– Thường xuyên tổ chức tốt việc giáo dục quốc phòng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.

Liên hệ trách nhiệm của bản thân:
Sau khi học xong Lớp bồi dưỡng kiến thức chính trị quốc phòng – an ninh đã mang lại cho tôi rất nhiều điều hiểu biết về các vấn đề quân sự, quốc phòng – an ninh, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc; nhiệm vụ quốc phòng – an ninh; trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; chủ quyền, biên giới, vùng trời, biển, đảo Việt Nam; cảnh giác, phòng, chống âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta; những văn bản pháp luật về quốc phòng – an ninh. Điều này đã mang lại cho bản thân tôi có một cái nhìn toàn diện hơn về tình hình của đất nước hiện nay, những nguy cơ mà chúng ta đang phải đối mặt, cũng như lòng tự hào về truyền thống dựng nước giữ nước của dân tộc ta từ xưa đến nay.

Không những vậy tôi còn được hiểu thêm về các đường lối quân sự, các chỉ thị của Đảng và nhà nước để thực hiện và chấp hành đầy đủ với tư cách là một công dân của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Là một cán bộ quản lý, là một công dân của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tôi xin nguyện sẽ đóng góp hết khả năng của mình vào công cuộc hiện đại hóa-công nghiệp hóa của đất nước, nêu cao tinh thần cảnh giác cao độ trước những lôi kéo từ bên ngoài

. Tuyên truyền sâu rộng đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến tận người dân, tuyên truyền vận động CBGV , học sinh, quần chúng hiểu rõ bản chất xấu xa, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, tránh bị lôi kéo, bị kích động, bình tĩnh, tự tin, linh hoạt giải quyết nhanh chóng, có khoa học, an toàn những biến cố xảy ra trong trường học.hoàn thành tốt và đầy đủ nhiệm vụ của một người công dân và chấp hành mọi quy định về pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội đã và đang thực hiện âm mưu, thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, chúng luôn coi Việt Nam là một trọng điểm.

Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta luôn nâng cao cảnh giác, nhận thức rõ tính chất nguy hiểm các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, thấy được tính chất phức tạp, quyết liệt trong cuộc đấu tranh này, đoàn kết kiên quyết đánh bại chúng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đảng ta xác định: Chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới.

Above, we have shared with our readers the most impressive article on protecting the sovereignty of the sea and islands. We hope this article of ours will add to you the most useful knowledge and help you realize your responsibility for the defense of your country. Thank you for following our article!Documents – Tags: Lessons to protect the sovereignty of the sea and islands

THESE SEA AND ISLAND THEME SUMMARY

You are viewing a shortened version of the document. View and download the full version of the document here (150.62 KB, 8 pages)

BÀI THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ TẬP HUẤN BIỂN, ĐẢO
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị
và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài
trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển,
các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất
liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100km2 đất liền có 1km bờ biển) đứng
đầu các nước Đông Dương, trên Thái Lan và xấp xỉ Malaysia. Trong 63 tỉnh, thành
phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại
các tỉnh, thành ven biển.
Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềm
lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành
tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam có vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng
thủ đất nước ra hướng biển. Do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải
dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều ngang hẹp, chiều sâu phòng thủ đất nước bị hạn
chế. Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội của ta đều năm trong phạm vi
cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị địch tấn công từ hướng biển.
Bên cạnh đó, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng
hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình
Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong
khu vực. Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên
nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển
năng động, đó là nơi rất hấp dẫn các thế lực đế quốc, bành trướng nhiều tham vọng và
cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.
Biển Việt Nam có tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ khí đốt. Tại vùng
biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bề trầm tích có triển vọng dầu khí,
các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát
thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựng khác.
Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực.
Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như:
tôm cua, mực, hải sâm, rong biển,… Dọc ven biển còn có hơn 80 vạn héc-ta bãi triều

and the straits, bays, coastal lagoons are very convenient for farming seafood with
high export value such as shrimp, crab, pearl, grouper, seaweed… With the above potential, in
the future we can develop the marine and coastal aquaculture industry in a
comprehensive and modern way, creating an export source with large turnover and high competitiveness
.
Along the coast of our country has identified many areas where ports can be built, in which
some places can build deep-water ports such as: Cai Lan and some points in
Ha Long Bay and Bai Tu Long, Lach Districts, Dinh Vu, Cat Hai, Do Son, Nghi

Son, Cua Lo, Hon La, Vung Ang, Chan May, Da Nang, Dung Quat, Van Phong, Cam
Rang, Vung Tau, Thi Vai,… Particularly in the area from Vung Tau to Ha Tien due to the shallow and
muddy sea, it is less likely to build a large seaport, but it is still possible to build
a medium-sized port in Hon Chong, Phu Country or Can Tho river port. Currently,
our country has over 100 seaports and 10 cargo transshipment zones, the output of goods
through the seaport system.
With all the importance mentioned above, the sea and islands of Vietnam are
an important part of the content for us to learn, preserve and protect together.
I. Some understandings about the Sea and Islands:
According to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, our country has a
sea area of ​​over 1 million square kilometers, 3 times the land area, accounting for nearly 30% of the land area.
area of ​​the East Sea (the whole East Sea is nearly 3.5 million km2). The sea of ​​our country has about
3,000 large and small islands and 2 offshore archipelagos, Hoang Sa and Truong Sa, which are distributed
fairly evenly along the length of the country’s coastline, occupying a particularly important position as a
defensive line. spending money to protect the eastern flank of the country; Some coastal islands also
have important positions that are used as national landmarks at sea to establish
baselines along the coast of the mainland of Vietnam, thereby determining internal waters, territorial seas,
contiguous zones. maritime zones, exclusive economic zones and continental shelves, serving as a legal basis to
protect national sovereignty over sea areas.
Our country has a chain of islands running along the coast that is used to determine the road

straight base. In 1982, the Government of our country issued a statement defining a straight baseline
along the coast of the Vietnamese mainland consisting of 10 segments connecting 11 points. Except for point A8 located on Dai
Lanh cape, the remaining points are located on islands. Point 0 is located on the southwestern boundary
of the historical waters of Vietnam – Cambodia. Point A1: Hon Nhan (Kien
Giang); A2: Islet Da Le (Ca Mau); A3: Hon Tai Lon; A4: Bong Lang Island; A5:
Bay Canh Island (Ba Ria – Vung Tau); A6: Hon Hai; A7: Hon Doi (Binh Thuan); A8:
Dai Lanh Cape; A9: Hon Ong Can (Khanh Hoa); A10: Ly Son Island (Quang Ngai); A11:
Con Co Island (Quang Tri).
The East Sea is an area with one of the 10 largest shipping lanes in the world
the world goes by. Bustling traffic ranks second in the world (after the Mediterranean). Every
day, about 200-300 ships of 5,000 tons or more (not counting less than 5,000 tons) pass through,
accounting for a quarter of the world’s seagoing ship traffic.
It is a strategic arterial and maritime route for countries in the region and the world;
connecting the Pacific Ocean with the Indian Ocean, Europe, the Middle East with Asia and
between Asian countries; transports half of the world’s crude oil and products
.
So what is the current situation in the East Sea?

II. Current Situation in the East Sea
1. Situation on Spratly Island:
Disputes in the Spratly Islands and nearby areas are not only
sovereignty disputes over the islands but also disputes over natural resources
such as oil and gas and seafood. There have been many conflicts between countries over foreign
fishing boats in other countries’ exclusive economic zones and the arrests
of fishermen.
From 1956 to 1975, the Spratly Islands were under the management of the Republic of
Vietnam after receiving them from France. In 1963, the Republic of Vietnam Navy sent ships to set
up steles on some islands, but then withdrew and did not stay for long.
In 1970, the Philippines organized to occupy Song Tu Dong island, Thi . island

Tu, Loai Ta and 4 more islands.
In March 1988, Vietnam and China had an armed clash at sea over
control of Gac Ma Island, Co Lin Island and Len Dao Island in the Spratly Islands.
In September 1992, Vietnam accused China of having detained twenty ships carrying
goods from Vietnam to Hong Kong since June 1992, but did not release them all
.
In July 2007, Chinese naval ships opened fire on several
fishing boats of Vietnamese fishermen in the waters near the Spratlys, sinking a
Vietnamese fishing boat, killing at least one fisherman and several others were
injured.
In 2011, three Chinese ships shot and chased Vietnamese fishing boats at a location
The point is located 15 nautical miles (27.8 km) southeast of East Rock.
On November 6, 2014, a representative of the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam met with a representative of the Chinese Embassy
in Hanoi to hand over a note protesting China’s illegal
reclamation activities on Fiery Cross Reef in the Truong Sa archipelago. Sa of Vietnam.
On April 16, 2015, in response to a question about Vietnam’s reaction to the statement made by
the Spokesperson of the Ministry of Foreign Affairs of China – Ms. Hoa Xuan Oanh on April 9, 2015 about
the expansion of reefs in Truong Sa. Sa belongs to Vietnam’s sovereignty,
Foreign Ministry Spokesperson Le Hai Binh said that Vietnam has repeatedly communicated with the
Chinese side, even at high levels, on this issue. According to him, “Once again, we declare
Vietnam has sufficient legal grounds and historical evidence to affirm its sovereignty
over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes. All foreign construction and
expansion actions on islands and rocks in the Hoang Sa and Truong Sa archipelagos
without the permission of the Vietnamese Government are completely illegal and worthless
. resolutely opposes the above actions and requires relevant parties
to seriously implement the Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC),
making practical contributions to maintaining peace and stability in the South China Sea. East.
On April 28, 2015, the Chairman of the 26th ASEAN Summit issued a statement
sharing the deep concerns of ASEAN leaders about the ongoing restoration and reclamation in Vietnam.
South China Sea, eroding trust and confidence and jeopardizing peace, security and

stability in the East Sea; reaffirmed the importance of maintaining peace, stability
, security and freedom of navigation and overflight in the East Sea, emphasizing the need for all parties
to ensure the full and effective implementation of the Declaration on Conduct of Parties
(DOC) in the East Sea.
With the above events, the situation on Truong Sa Island is currently very complicated.
2. Situation on Hoang Sa Island:
Hoang Sa is located in the middle of an area with high potential for seafood but no
indigenous people live. In 1932, the French government in Indochina occupied
this archipelago and Vietnam continued to hold sovereignty until 1974 (except for two islands of
Phu Lam and Linh Con, which were occupied by China since 1956).
China has occupied the entire Paracel Islands since 1974 after using its navy, marines
and air force to attack the military base of the Republic of Vietnam in
the western island group.
Taiwan and Vietnam are also claiming the islands.
In January 1982, the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam published many documents to prove
that the Paracels belonged to Vietnam. There is also plenty of
other independent research evidence that the Paracels belong to Vietnam.
Most recently, very clear evidence has been discovered to affirm that Vietnam’s sovereignty over the
Hoang Sa archipelago belongs to Vietnam, which is the decree of the Nguyen court regarding
the guarding of the Hoang Sa archipelago, which was inhabited by the Dang family. Ly island district
Son, Quang Ngai, preserved for the past 174 years, now handed over to the Department of Culture, Sports
and Tourism of the province.
In July 2012, the Vietnamese press presented evidence of Vietnam’s sovereignty
over the archipelagos in the East Sea, which was a map of the Qing Dynasty published
in 1904 in which China’s southernmost point stopped at just one point. left on Hainan Island without
Xisha or Nansha that China was trying to capture.
However, the Chinese side still asserts their sovereignty over the Paracel Islands.
On May 1, 2014, the People’s Republic of China put the oil rig HD-981 in

The East Sea area near the Hoang Sa archipelago led to the State of the Socialist Republic of
Vietnam issuing a statement of protest, and ships of the two countries had
some serious collisions.
3. Disputes in the East Sea.
The years 2009-2013 marked the time when China stepped up the
East Sea dispute at high intensity. On May 7, 2009, for the first time, China formalized
its claim of the cow’s tongue line. This claim covers more than 80% of the South China Sea,
but is not based on any legal basis.
In the first half of 2010, China began to include the South China Sea in the category of “
core interests”, taking well-calculated steps, concretizing its claims on the sea lanes.
9-dash cow’s tongue: in addition to the economic goals of exploiting marine and petroleum resources that
are considered abundant, military goals are very important.

At the same time, the East Sea has also become one of the remote defense directions of
the US armed forces, and the US is determined to establish a missile defense system,
of which Southeast Asia and the East Sea are a part of a missile defense system. system connecting Northern Japan
to the West Philippine Sea. The East Sea becomes a place of “crouching tiger, hiding dragon”.
The East Sea from a bilateral relationship has become a regional issue with
the participation of ASEAN and since 2010 has become an international issue. It concerns
maritime sovereignty, international law, economics and international maritime security. this is a
in the most complicated maritime and island sovereignty disputes in the world, not only
involving many countries along the East Sea coast, but also involving the geo-
political interests of many countries in the Asia-Pacific and the Pacific Ocean. most of the major countries in the world.
For Beijing, the East Sea is the focal point of the strategy of building China
into a “sea power”, the East Sea is the “lifeline”
of China’s maritime strategy, without the East Sea, the main policy China ‘s maritime rule
is virtually non-existent.
But it is also China’s escalation of disputes in the South China Sea that has
prompted other major countries to re-engage in this sea. Specifically, after 20 years the US has

returned to the Philippines to approve defense cooperation programs, including
increasing the presence of the US military in the Philippines. Other major related countries such as
Russia, Japan, and India also actively participated, contributing to the formation of a
diversified balance of power situation in the East Sea.
For ASEAN, after more than 10 years of implementing the Declaration on the Conduct of Parties in
the East Sea (DOC), signed by ASEAN countries and China on November 4, 2002 in
Phnom Penh, the path to reaching a The code of conduct of the parties in the East Sea
(COC) is full of twists and turns. ASEAN countries, along with China, have begun
negotiations on a binding code of conduct between the parties
in the East Sea (COC); The international community also supports finding a solution
in this direction. But when the new solution will be implemented and resolved is
still a lot of debate.
In short, the East Sea issue creates many complications in the Vietnam-China relationship,
as well as an unprecedented complexity in international relations in the history
of diplomatic relations between countries.
III. The policy of our Party and State towards China and the East Sea issue
.
In the agreement documents on basic principles guiding the settlement
of maritime issues between the Socialist Republic of Vietnam and the
People’s Republic of China, the Government Delegation of the Socialist Republic of Vietnam
Vietnam and the Government delegation of the People’s Republic of China
agree that the satisfactory settlement of sea issues between Vietnam and China is in line with the fundamental interests and common aspirations of
the two peoples. , which is conducive to peace, stability, cooperation and development of the region.

The two sides agreed to base themselves on the common perceptions reached by the leaders of Vietnam and China
on the maritime issue, on the basis of the “Agreement on
basic principles to settle the border and territorial issue between the Republic of Korea and the Republic of China. ” Socialist Republic of
Vietnam and the People’s Republic of China” in 1993, handling and
settling issues at sea according to the following principles:

1. Taking the overall relationship of the two countries as a priority, starting from a strategic and global height
, under the direction of the motto “friendly neighbourliness,
comprehensive cooperation, long-term stability, and looking forward to the future.” ” and the spirit of “good neighbours
, good friends, good comrades, good partners”, persisting through friendly
consultation, properly handling and solving problems at sea, making the East Sea
a Sea peace, friendship and cooperation, contributing to the development of
the comprehensive strategic cooperative partnership between Vietnam and China, contributing to
maintaining peace and stability in the region.
2. In the spirit of fully respecting legal evidence and considering the
other relevant factors such as history…, while at the same time respecting
each other’s reasonable concerns, with a constructive attitude, trying to expand common understanding,
narrowing disagreements, and constantly promoting the negotiation process. Pursuant to the
legal regime and principles defined by international law, including the
1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, efforts to find a fundamental
and long-term solution that both sides can accept. for disputes over
the Sea.
3. In the process of negotiating issues at sea, the two sides strictly
adhere to the agreement and common perception reached by the senior leaders of the two countries
, and strictly implement the principle and spirit of the “Declaration on the belong to
parties in the South China Sea” (DOC). For maritime disputes between Vietnam and China, the two sides shall settle through friendly negotiations and consultations.
If the dispute involves other countries, consultations shall be made with the other disputing parties
.
4. In the process of finding a fundamental and long-term solution to the issue
at sea, in the spirit of mutual respect, equal treatment, and mutual benefit, actively
discuss solutions that are too extreme. temporarily without
affecting the positions and undertakings of the two parties, including actively studying
and discussing the issue of cooperation and development in accordance with the principles stated in article 2
of this agreement.
5. Solve problems at sea in the spirit of gradual progression, easy
first, difficult later. Steadily promoting negotiations on delimitation of the sea outside the door

Gulf of Tonkin, and at the same time actively discussed cooperation and development
in this sea area. Actively promote cooperation in less sensitive fields such
as marine environmental protection, marine scientific research, search and rescue
at sea, prevention and reduction of damage caused by natural disasters. Efforts should be made to
strengthen mutual trust to facilitate the resolution of
more difficult problems.

6. Hai bên tổ chức các cuộc họp định kỳ với các Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp chính phủ
mỗi năm hai lần, luân phiên tổ chức và
họp bất thường khi cần thiết. Các bên nhất trí thiết lập cơ chế đường dây nóng
trong khuôn khổ đoàn chính phủ để kịp thời thảo luận và giải quyết tình hình,
đưa ra giải pháp thỏa đáng cho vấn đề trên biển.
Tuy nhiên, Trung Quốc nhiều lần tiếp tục gây hấn trên biển và trên
hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của chúng ta. Trước tình hình đó, quan điểm của Việt Nam,
như phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình, là: “Một
lần nữa, chúng tôi tuyên bố rằng Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử để
khẳng định chủ quyền của họ. Mọi
hoạt động xây dựng, mở rộng của nước ngoài trên các đảo, bãi đá
thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được phép của
chính phủ Việt Nam là hoàn toàn bất hợp pháp và vô ích ”. Việt Nam cực lực phản đối các
hành động nêu trên và đề nghị các bên liên quan nghiêm túc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các
bên ở Biển Đông (DOC), đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định
ở Biển Đông.
IV. Vận dụng Tình hình Biển và Hải đảo vào dạy học:
Qua thực tế giảng dạy cũng như thực trạng Biển Đông,
bản thân tôi đã thực hành giảng dạy cho học sinh những kiến ​​thức về biển và hải đảo như sau:
– Tôi và các bạn trong nhóm đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
Đây là sự kiện được tổ chức tại trường Trần Quý Cáp dành cho học sinh toàn
trường. đặc biệt phát động cuộc thi tìm hiểu về

chủ đề Đất Mẹ, trong đó có vấn đề tìm hiểu biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các hoạt động trên
đã thu hút đông đảo sinh viên tham gia tích cực, cuối buổi sinh hoạt chúng tôi
đã trao phần thưởng cho những sinh viên có bài kiểm tra và bài nghiên cứu xuất sắc. Nhờ
bài học này, tôi và các bạn đồng nghiệp đã giúp các em hiểu biết về biển
đảo, về Hoàng Sa và Trường Sa sâu hơn, rộng hơn, các em tìm được những cứ liệu lịch sử chứng minh
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam. Đồng thời nó cũng giáo dục
tinh thần yêu Tổ quốc, đặc biệt là Trường Sa và Hoàng Sa.
– Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy ở các bài học lịch sử, tôi đã
lồng ghép, tích hợp các kiến ​​thức về biển, đảo vào các bài học. Tôi đã tổng hợp các vấn đề
liên quan đến lịch sử hình thành và thực thi chủ quyền của các chính quyền phong kiến
​​đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (đặc biệt là dưới triều Nguyễn). Tôi
giúp học sinh tìm ra những bằng chứng lịch sử cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là của
Việt Nam. Qua thầy không chỉ kể lại lịch sử dân tộc (lịch sử đất liền
, biển, đảo) mà đồng thời giáo dục các em tinh thần tự hào dân tộc,
chủ quyền lãnh thổ. Đây là sự giáo dục về tình yêu đối với Tổ quốc, và
kiểm soát và ngăn ngừa những hệ quả tiêu cực trong suy nghĩ của trẻ em. (vì là
vấn đề nhạy cảm nên xảy ra thường xuyên và rất khó).
Đặc biệt, tôi đã vận dụng vào dạy học ở Bài 25 – Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa
dưới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỉ 19) (Lịch sử lớp 10, bảng chính)

Trong tiết học này, ngoài yêu cầu học sinh nắm được những nét cơ bản nhất
về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa Việt Nam từ năm 1802
đến năm 1858, tôi đã lồng ghép và tích hợp các câu hỏi Hoàng Sa và Trường Sa. đi đến điểm 1
– Xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước – chính sách đối ngoại. Tôi thông báo
với học sinh rằng: Đây là thời kỳ của nhà Nguyễn, khi những bằng chứng lịch sử quan trọng
chứng minh sự xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
thông qua các bản đồ, tài liệu văn hóa,… các bản, các chiếu chỉ của nhà vua.
Hoặc đối với lớp 12, tôi gộp lại thành nhiều bài nhưng
bài 23 quan trọng nhất, thuận tiện nhất là bài Sự phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội ở miền Bắc, phần giải bài.

giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975). Bài này có mục III – Giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thu phục toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong phần này có sơ đồ “Diễn
biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975″, trên đó thể hiện từng lược đồ. Mũi tên tiến công
của bộ đội Việt Nam tiến vào giải phóng quần đảo Trường Sa.
– Ngoài ra, trong quá trình dạy học, tôi thường xuyên kể
chuyện biển đảo, nhất là trong các tiết học lịch sử địa phương. Cũng cần
nói thêm rằng, sinh ra, lớn lên và làm việc
tại Khánh Hòa, nơi có đảo Trường Sa, tình cảm của tôi với biển đảo ngày càng lớn. Cũng
vì thế mà những bài giảng cho học sinh về Trường Sa, về biển, đảo lại càng trở nên
quan trọng và hấp dẫn.
Có thể kết luận rằng, biển, đảo quê hương Việt Nam là một bộ phận quan trọng của
lãnh thổ Việt Nam. Dù hiện nay còn nhiều tranh chấp,
xung đột bạo lực nhưng có một điểm chung của người Việt Nam là một phần Biển Đông,
đảo Trường Sa và Hoàng Sa vẫn thuộc về Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh rằng, chủ quyền
là một phần thiêng liêng của Tổ quốc, một phần lãnh thổ không thể tách rời. Dù
có nước nào trên thế giới lấn, đánh, chiếm
cũng không thay đổi được lịch sử, không thay đổi được tư duy của người Việt Nam.
Nam giới, kể cả thế hệ trẻ của chúng ta hiện tại và tương lai.
Nhưng quan trọng hơn, mỗi chúng ta ngày nay
không ngừng học tập, rèn luyện hiểu biết về chủ quyền biển, đảo nói chung và
Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng. Tại sao thế này? Do cuộc tranh chấp còn
kéo dài, còn rất khó khăn, phức tạp nên địch luôn có những phương hướng mới, thủ đoạn mới
mà ta không lường trước được. Nếu chúng ta không tích cực học tập
, giáo dục kiến ​​thức về biển, đảo và truyền lại cho thế hệ trẻ
thì chủ quyền của Tổ quốc sẽ bị kẻ thù cướp mất. Và không quên nói rằng để
làm được điều này có kết quả tốt thì mọi người Việt Nam đều phải quan tâm đến vấn đề này.
môn lịch sử.

Mùa gặt


Video Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biển đảo mới nhất |Link tải GG drive!. 123DocX hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Biểu Mẫu – Văn Bản. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. 123DocX chúc bạn ngày vui vẻ

Xem thêm:  Bài thu hoạch bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia mới nhất |Link tải GG drive

123 Doc