Gió là gì |Tất tần tật về gió

gió là gì đang được nhiều người tìm kiếm. 123 DocX.123 DocX gửi tới các bạn bài viết Gió là gì |Tất tần tật về gió . Cùng123 DocX tìm hiểu ngay thôi

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Gió

Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí

Gió là gì |Tất tần tật về gió

Gió từ   Tacuinum Sanitatis

Gió là gì |Tất tần tật về gió

Gió vén màn cô dâu

Gió là gì |Tất tần tật về gió

Thiết bị chỉ hướng và tốc độ gió  Gió là gì |Tất tần tật về gióCherry trong gió

Gió   là chuyển động không khí quy mô lớn. Trên bề mặt Trái đất, gió bao gồm một khối không khí lớn chuyển động. Trong chuyến bay vũ trụ, gió Mặt trời là sự chuyển động của các chất khí hoặc các hạt mang điện từ Mặt trời vào không gian, và gió lưu vực là sự giải phóng các nguyên tố hóa học nhẹ từ bầu khí quyển của Mặt trời. hành tinh vào không gian. Gió thường được phân loại theo quy mô không gian, tốc độ, sức gió, khu vực gió thổi và ảnh hưởng của chúng. Những cơn gió mạnh nhất quan sát được trên hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta xảy ra trên Sao Hải Vương và Sao Thổ. Gió có các khía cạnh khác nhau, một trong số đó là tốc độ gió; hai – áp suất của dòng khí; ba là tổng năng lượng gió.)

Trong khí tượng học, gió thường được xem là cường độ và hướng gió thổi. Gia tốc đột ngột của gió được gọi là bão. Gia tốc dài (khoảng một phút) của gió mạnh được gọi là gió giật. Các loại gió có thời gian dài hơn có các tên khác nhau liên quan đến tốc độ gió trung bình, chẳng hạn như gió nhẹ, gió mạnh, bão, xoáy thuận nhiệt đới và bão. Gió xuất hiện trên phạm vi rộng, từ những cơn cuồng phong kéo dài hàng chục phút, đến những cơn gió cục bộ được tạo ra bằng cách làm nóng bề mặt trái đất trong vài giờ, đến những cơn gió toàn cầu do sự khác biệt về kiểu gió. sự khác biệt trong việc hấp thụ năng lượng mặt trời tùy thuộc vào khí hậu trên Trái đất. Hai nguyên nhân chính gây ra gió tuần hoàn trên quy mô lớn trong khí quyển là sự chênh lệch nhiệt độ giữa xích đạo và các cực và chuyển động quay của Trái đất (hiệu ứng Coriolis).Ở vùng nhiệt đới, hoàn lưu nhiệt thấp ở đồng bằng và cao nguyên có thể gây ra hoàn lưu gió mùa. Ở vùng ven biển, tính chất chu kỳ của gió thổi từ biển vào đất liền và ngược lại có thể coi là gió cục bộ; Ở những vùng có địa hình thay đổi, gió núi và gió thung lũng là gió cục bộ.

Trong nền văn minh nhân loại, gió đã làm nảy sinh những câu chuyện thần thoại, gây ra những sự kiện lịch sử, mở rộng phạm vi của các phương tiện giao thông và chiến tranh, đồng thời cũng trở thành nguồn cung cấp năng lượng cho cơ khí. điện và giải trí. Gió đã đẩy các con tàu trong các đại dương trên trái đất. Bóng bay sử dụng sức gió cho các chuyến bay ngắn, trong khi các chuyến bay chạy bằng năng lượng sử dụng sức gió để tăng lực nâng và giảm tiêu thụ nhiên liệu. Gió giật do các điều kiện thời tiết khác nhau có thể tạo ra các tình huống nguy hiểm cho máy bay. Khi gió lớn, cây cối và các công trình nhân tạo bị hư hại hoặc phá hủy.

Gió có thể định hình cảnh quan thông qua các quá trình bồi lắng gió khác nhau, chẳng hạn như sự hình thành của các loại đất màu mỡ như đất phù sa, và xói mòn đất. Nhờ có gió, bụi từ sa mạc lớn có thể được mang đi một khoảng cách xa so với vị trí ban đầu của nó; Những cơn gió tăng tốc bởi địa hình gồ ghề và kết hợp với những đám mây bụi đã được đặt tên theo các khu vực ở các khu vực khác nhau trên thế giới do tác động đáng kể của chúng đối với những vùng đất này. Gió ảnh hưởng đến sự lây lan của cháy rừng. Gió làm phân tán hạt giống của các loài thực vật khác nhau, góp phần vào sự tồn tại và phân bố của thực vật, cũng như số lượng côn trùng bay. Khi kết hợp với không khí lạnh, gió có ảnh hưởng xấu đến vật nuôi. Gió ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thức ăn của động vật, cũng như chiến lược săn bắt và bảo vệ của chúng.Lý do giáo dục   Xem thêm:  Gió là gì |Tất tần tật về gióPhân tích bề mặt áp suất khí quyển trong trận Đại bão tuyết năm 1888. Các khu vực có các đường đẳng sâu lớn cho thấy nhiều gió hơn.

Gió được tạo ra bởi sự chênh lệch áp suất khí quyển. Khi có sự chênh lệch về khí áp, không khí sẽ di chuyển từ vùng có áp suất cao hơn sang vùng có áp suất thấp hơn, dẫn đến tốc độ gió khác nhau. Trên một hành tinh đang quay, không khí cũng sẽ bị lệch hướng do hiệu ứng Coriolis, ngoại trừ đường xích đạo. Trên toàn cầu, hai động lực chính để tạo mô hình gió quy mô lớn (hoàn lưu khí quyển) là chênh lệch nhiệt độ giữa xích đạo và các cực (điều này có thể xảy ra do sự khác biệt trong việc hấp thụ năng lượng mặt trời) và chuyển động quay của hành tinh. Bên ngoài vùng nhiệt đới và cao trên bề mặt, gió quy mô lớn có xu hướng cân bằng do ma sát. Ở bề mặt Trái đất, ma sát làm chậm tốc độ gió. Ma sát bề mặt cũng gây ra gió thổi vào trong các khu vực có áp suất thấp hơn.[1]   Một lý thuyết mới gây tranh cãi cho rằng độ dốc khí quyển là do sự ngưng tụ của nước tích tụ trong rừng, gây ra một vòng phản hồi tích cực từ các khu rừng kéo không khí ẩm ra khỏi bờ biển.  [2]

Gió được xác định bởi điểm cân bằng lực vật lý được sử dụng trong phân tích gió cấu trúc. Chúng hữu ích để đơn giản hóa các phương trình chuyển động của khí quyển và để định lượng sự phân bố theo chiều ngang và chiều dọc của gió. Các thành phần gió địa dưỡng là kết quả của sự cân bằng giữa lực Coriolis và lực chênh lệch áp suất. Nó chảy song song với đường đẳng áp và tiếp cận dòng điện phía trên lớp ranh giới của khí quyển ở vĩ độ trung bình.  [3]   Gió nhiệt là sự khác biệt về gió địa dưỡng giữa hai cấp áp suất khí quyển. Nó chỉ tồn tại trong bầu khí quyển với gradient nhiệt độ nằm ngang.  [4] Các thành phần gió không địa dưỡng là sự khác biệt giữa gió thực tế và gió địa dưỡng, có nhiệm vụ “làm đầy” không khí với các xoáy thuận theo thời gian.  [5]   Gió Gradient tương tự như gió địa dưỡng nhưng bao gồm lực ly tâm (hoặc gia tốc hướng tâm).  [6]  Kích thước Gió là gì |Tất tần tật về gió  Máy đo gió bằng cốc với  Gió là gì |Tất tần tật về giólốc xoáy trục dọc (Oklahoma, tháng 5 năm 1999)

Hướng gió thường được biểu diễn theo hướng mà nó bắt đầu, ví dụ, một cơn gió bắc thổi từ bắc đến nam.[7] Dự báo thời tiết dùng mũi tên để chỉ hướng gió.[8] Tại sân bay, cờ gió dùng để chỉ hướng gió, và cũng có thể được sử dụng để ước tính tốc độ gió bằng góc nâng của cờ.[9] Tốc độ gió được đo bằng phong tốc kế, phổ biến nhất là sử dụng cốc xoay hoặc cánh quạt. Khi phải đo với tần số cao (chẳng hạn như trong nghiên cứu), gió có thể được đo bằng tốc độ lan truyền của tín hiệu siêu âm hoặc bằng tác động của gió trên điện trở của một dây kim loại nung nóng.[10] Một loại máy đo gió sử dụng ống pitot tận dụng lợi thế của sự khác biệt áp suất giữa ống bên trong và ống ngoài được tiếp xúc với gió để xác định áp lực động, số liệu này được sử dụng để tính toán tốc độ gió.[11]

Tốc độ gió duy trì trên toàn cầu được báo cáo ở độ cao 10 mét (33 ft) và được tính trung bình trong 10 phút. Hoa Kỳ báo cáo gió trong khoảng 1 phút với các xoáy thuận nhiệt đới,[12] và trung bình 2 phút trong khi quan sát thời tiết.[13] Tại Ấn Độ báo cáo gió trong khoảng thời gian trung bình 3 phút.[14] Khoảng thời gian trung bình lấy mẫu gió quan trọng vì vận tốc của một cơn gió duy trì một phút thường lớn hơn 14% so với cơn gió duy trì trong mười phút.[15] Một sự bùng phát ngắn của gió tốc độ cao được gọi là một gust, một định nghĩa kỹ thuật của một gust là: tốc độ gió cao nhất vượt quá tốc độ gió thấp nhất đo được trong một thời gian mười phút khoảng 10 nút (19 km/h). Một squall là cơn gió có tốc độ gió tăng gấp đôi trên một ngưỡng nhất định, kéo dài trong một phút hoặc hơn.

Để tìm thấy gió trên cao, máy do thám xác định tốc độ gió bằng GPS, điều hướng radio hoặc định vị radar bằng đầu dò.[16] Ngoài ra còn có thể theo dõi chuyển động vị trí của bóng thám không từ mặt đất bằng máy kinh vĩ.[17] Các kỹ thuật viễn thám gió bao gồm SODAR, Doppler Lidar và radar, có thể đo sự dịch chuyển Doppler của bức xạ điện từ bị phân tán hoặc phản xạ của các sol khí hay phân tử lơ lửng. Máy đo bức xạ cùng với radar có thể sử dụng để đo độ nhám bề mặt của đại dương từ không gian hoặc máy bay. Hình ảnh vệ tinh địa tĩnh có thể sử dụng để ước tính gió trong suốt bầu khí quyển dựa trên khoảng cách các đám mây di chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh tiếp theo. Kỹ thuật gió là ngành nghiên cứu tác động của gió đến môi trường xây dựng như tòa nhà, cầu và các vật thể nhân tạo khác.Thang đo cường độ gió[sửa | sửa mã nguồn]Xem thêm: Thang đo xoáy thuận nhiệt đới và Phân tích thời tiết bề mặt

Thang Beaufort[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, thang sức gió Beaufort (tạo ra bởi Francis Beaufort) cung cấp mô tả thực nghiệm về vận tốc gió dựa trên các điều kiện biển được quan sát. Ban đầu nó là thang 13 mức, nhưng trong những năm 1940, nó đã được mở rộng thành 17 mức.[18] Có các thuật ngữ thông thường mà chia gió theo các vận tốc gió trung bình khác nhau như gió nhẹ, gió mạnh, gió bão hay gió bão cực mạnh. Trong thang Beaufort, gió mạnh khoảng giữa 28 hải lý trên giờ (52 km/h) và 55 hải lý trên giờ (102 km/h) cùng với các tính từ theo sau như gió mạnh trung bình, gió mạnh hơn, gió rất mạnh để chia các mức độ gió thuộc phân loại gió mạnh.[19] Một cơn bão có gió từ 56 hải lý trên giờ (104 km/h) đến 63 hải lý trên giờ (117 km/h).[20] Thuật ngữ khí xoáy thuận nhiệt đới có nghĩa khác nhau theo từng vùng trên thế giới. Hầu hết các bồn trũng đại dương sử dụng vận tốc gió trung bình để xác định phân loại khí xoáy thuận nhiệt đới. Dưới đây là bảng phân loại được sử dụng bởi các Trung tâm Khí hậu học Chuyên môn hóa Theo vùng trên khắp thế giới:

ẩnPhân loại gió thông thường Phân loại khí xoáy thuận nhiệt đới (tất cả gió trung bình 10 phút)
Thang Beaufort[18] Gió kéo dài 10 phút (nút) Gió kéo dài 10 phút (km/h) Thuật ngữ chung[21] Bắc Ấn Độ Dương
IMD
Đông Nam Ấn Độ Dương
MF
Vùng châu Úc
Nam Thái Bình Dương
BoM, BMKG, FMS, MSNZ
Tây Bắc Thái Bình Dương
JMA
Tây Bắc Thái Bình Dương
JTWC
Đông Bắc Thái Bình Dương &
Bắc Đại Tây Dương
NHC & CPHC
<1 <2 Êm đềm Vùng áp suất thấp Xáo động nhiệt đới Nhiệt đới thấp
Áp thấp nhiệt đới
Áp thấp nhiệt đới Áp thấp nhiệt đới Áp thấp nhiệt đới
1 1–3 2–6 Gió rất nhẹ
2 4–6 7–11 Gió nhẹ vừa phải
3 7–10 13–19 Gió nhẹ
4 11–16 20–30 Gió vừa phải
5 17–21 31–39 Gió mạnh vừa phải Áp thấp
6 22–27 41–50 Gió mạnh
7 28–29 52–54 Gió mạnh Áp thấp sâu Áp thấp nhiệt đới
30–33 56–61
8 34–40 63–74 Gió mạnh hơn Bão xoáy thuận Bão nhiệt đới trung bình Khí xoáy thuận nhiệt đới (1) Bão nhiệt đới Bão nhiệt đới Bão nhiệt đới
9 41–47 76–87 Gió rất mạnh
10 48–55 89–102 Gió bão Bão xoáy thuận mạnh Bão nhiệt đới mạnh Khí xoáy thuận nhiệt đới (2) Bão nhiệt đới mạnh
11 56–63 104–117 Gió bão dữ dội
12 64–72 119–133 Gió bão cực mạnh Bão xoáy thuận nhiệt đới rất mạnh Khí xoáy thuận nhiệt đới Khí xoáy thuận nhiệt đới mạnh (3) Bão nhiệt đới dữ dội Tây Thái Bình Dương Bão nhiệt đới dữ dội Tây Thái Bình Dương Gió bão cực mạnh (1)
13 73–85 135–157 Gió bão cực mạnh (2)
14 86–89 159–165 Khí xoáy thuận nhiệt đới mạnh (4) Gió bão cực kỳ mạnh (3)
15 90–99 167–183 Khí xoáy thuận nhiệt đới tăng cường
16 100–106 185–196 Gió bão cực kỳ mạnh (4)
17 107–114 198–211 Khí xoáy thuận nhiệt đới mạnh (5)
115–119 213–220 Khí xoáy thuận nhiệt đới rất mạnh Siêu bão nhiệt đới dữ dội Tây Thái Bình Dương
>120 >222 Siêu bão xoáy thuận Gió bão cực kỳ mạnh (5)

Thang độ Fujita cải tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Thang độ Fujita cải tiến (Thang EF) đánh giá sức mạnh của lốc xoáy tại Hoa Kỳ theo độ hủy diệt mà lốc xoáy gây nên, gồm 6 cấp:

Gió là gì |Tất tần tật về gió

Mô hình trạm đo[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióPhác họa gió tại một mô hình trạm đo

Mô hình trạm đo phác họa trên bề mặt bản đồ thời tiết thanh gió để diễn tả cả hướng gió và tốc độ. Thanh gió thể hiện tốc độ bằng “cờ” ở cuối.

  • Một nửa cờ thể hiện gió 5 hải lý trên giờ (9,3 km/h).
  • Một cái cờ thể hiện gió 10 hải lý trên giờ (19 km/h).
  • Mỗi hình tam giác thể hiện gió 50 hải lý trên giờ (93 km/h).[24]

Gió được thể hiện là thổi từ hướng thanh gió hướng vào. Do đó, một cơn gió đông bắc sẽ được biểu diễn với một đường thẳng bắt đầu từ đầu có cờ chỉ tốc độ hướng về phía đông bắc.[7] Khi đã được phác họa trên bản đồ, một phân tích đường đẳng lưu tốc (đường với vận tốc gió bằng nhau) có thể được thực hiện. Đường đẳng lưu tốc đặc biệt hữu ích trong việc chẩn đoán vị trí của dòng phản lực trên đồ thị hằng số áp suất cấp độ cao, và thường lớn hơn hoặc bằng 300 hPa.[25]Năng lượng gió[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Năng lượng gió

Năng lượng gió là động năng của gió chuyển động. Động năng của một khối khí có khối lượng m với vận tốc v là ½ m v2. Để tìm khối lượng của khối khí đi qua một diện tích A vuông góc với vận tốc của nó, ta nhân thể tích của nó sau thời gian t trôi qua với khối lượng riêng của khí ρ, ta có m = A v t ρ. Vậy nên, ta có thể tìm được tổng năng lượng gió:{\ displaystyle E = {\ frac {1} {2}} \ rho Av ^ {3} t}

Đạo hàm theo thời gian để tìm tốc độ tăng của năng lượng, ta có tổng công suất gió là:{\ displaystyle P = dE / dt = {\ frac {1} {2}} \ rho Av ^ {3}}

Năng lượng gió vì thế tỷ lệ với lũy thừa bậc ba của vận tốc gió.

Công suất turbine gió lý thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng công suất gió chỉ có thể đạt được khi vận tốc gió giảm xuống không. Trong turbine gió thực tế điều này không thể xảy ra, vì lượng không khí đi vào cũng phải đi ra khỏi turbine. Cần phải tính đến mối quan hệ giữa vận tốc gió đi vào và đi ra. Sử dụng khái niệm ống dòng chảy, công suất gió thu được tối đa bởi một turbine gió là 59% tổng công suất gió lý thuyết[26] (xem định luật Betz).

Công suất turbine gió thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Những tổn thất như là ma sát và lực kéo rô tơ turbine, tổn thất hộp số, tổn thất máy phát và biến áp, giảm công suất tạo ra bởi một turbine gió. Mối quan hệ cơ bản mà công suất tuabin xấp xỉ tỷ lệ với lỹu thừa bậc ba của vận tốc vẫn đúng.Khí hậu địa cầu[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Gió chủ đạoGió là gì |Tất tần tật về gióGió tây và gió mậu dịchGió là gì |Tất tần tật về gióGió là một phần của sự lưu hành khí quyển Trái Đất

Gió đông thống trị dòng chảy qua các cực, còn gió tây thổi qua các vĩ độ trung bình của Trái Đất, hướng về phía cực của rãnh cận nhiệt đới, trong khí gió đông lại thống trị vùng nhiệt đới.

Ngay dưới rãnh cận xích đạo là đới lặng gió cận xích đạo, hay vĩ độ ngựa, nơi gió nhẹ hơn. Nhiều sa mạc của Trái Đất nằm gần các vĩ tuyến của rãnh cận nhiệt đới, nơi sự hạ nhiệt độ giảm độ ẩm tương đối của khối khí.[27] Gió lớn nhất là ở những vĩ độ trung bình nơi khí lạnh từ cực gặp khí ấm từ vùng nhiệt đới.

Gió nhiệt đới[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Gió mậu dịch và Gió mùa

Gió mậu dịch là loại phổ biến của gió đông ở vùng nhiệt đới về phía xích đạo Trái Đất.[28] Gió mậu dịch thổi chủ yếu từ phía đông bắc bán cầu bắc và từ phía đông nam bán cầu nam.[29] Gió mậu dịch có vai trò làm dòng lái cho xoáy thuận nhiệt đới hình thành phía trên các đại dương trên thế giới.[30] Gió mậu dịch cũng lái bụi châu Phi về phía tây qua Đại Tây Dương đến vùng Caribe, cũng như các phần của đông nam Bắc Mỹ.[31]

Gió mùa là gió theo mùa kéo dài vài tháng ở vùng nhiệt đới. Trong tiếng Anh, gió mùa là monsoon, từ này được sử dụng lần đầu trong tiếng Anh tại Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, và các quốc gia lân cận để đề cập đến loại gió theo mùa lớn thổi từ Ấn Độ Dương và biển Ả Rập ở vùng tây nam mang lượng mưa lớn đến khu vực này.[32] Sự phát triển về phía cực được tăng tốc bởi sự phát triển nhiệt thấp qua lục địa châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ trong tháng 5 đến tháng 7 và qua Úc trong tháng 12.[33][34][35]

Xem thêm:  Yếu sinh lý là như thế nào

Gió tây và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióBản đồ Hải lưu Gulf Stream của Benjamin FranklinBài chi tiết: Gió tây

Gió tây hay gió tây chủ đạo là gió chủ đạo ở vĩ độ trung bình giữa 35 và 65 độ vĩ. Gió chủ đạo này thổi từ phía tây sang phía đông,[36][37] và lái khí xoáy ngoại nhiệt đới theo cách này. Gió này chủ yếu bắt đầu từ phía tây nam bán cầu bắc và tây bắc bán cầi nam.[29] Chúng mạnh nhất vào mùa đông khi áp suất thấp hơn ở các cực, và yếu nhất vào mùa hè khi áp suất lớn hơn ở các cực.[38]

Cùng với gió mậu dịch, gió tây tạo thuận lợi cho chuyến đi hai chiều cho thuyền buồm thương mại đi qua Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, vì gió tây dẫn đến sự phát triển của dòng đại dương mạnh tại phía tây của các đại dương trên cả hai bán cầu qua quá trình tăng cường phía tây.[39] Các dòng hải lưu phía tây này vận chuyển nước ấm cận nhiệt đới về các vùng cực. Các đợt gió tây có thể đặc biệt mạnh, đặc biệt là ở Nam bán cầu, nơi có ít đất hơn ở vĩ độ trung bình để làm cho mô hình dòng chảy khuếch đại khiến gió chậm lại. Những cơn gió tây mạnh nhất ở vĩ độ trung bình nằm trong dải được gọi là Roaring Forties, từ 40 đến 50 độ vĩ nam của đường xích đạo.[40] Gió tây đóng một vai trò quan trọng trong việc mang theo các vùng biển ấm áp, xích đạo và gió đến các bờ biển phía tây của các lục địa,[41][42] đặc biệt là ở Nam bán cầu do có đại dương rộng lớn.

Gió đông cực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gió đông cực

Gió đông cực là gió chủ đạo khô, lạnh và thổi từ vùng áp suất cao ở cực bắc và cực nam về phía vùng áp suất thấp trong vùng gió tây ở độ cao lớn. Không giống như gió tây, loại gió chủ đạo này thổi từ phía đông sang phía tây, thường yếu và không đều.[43] Vì góc Mặt Trời thấp, khí lạnh tích tụ và lắng xuống tại cực tạo ra vùng bề mặt áp suất cao, tạo ra dòng chảy khí về phía xích đạo;[44] dòng chảy ra này bị lệch về hướng tây bởi hiệu ứng Coriolis.Đánh giá địa phương[sửa | sửa mã nguồn]Gió là gì |Tất tần tật về gióGió địa phương trên thế giới. Những loại gió này hình thành bằng cách làm nóng đất (từ núi hoặc địa hình bằng phẳng)

Gió biển và gió đất[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gió biểnGió là gì |Tất tần tật về gióA: Gió biển (xảy ra vào ban ngày), B: Gió đất (xảy ra vào ban đêm)

Tại vùng bờ biển, gió biển và gió đất có thể là các yếu tố quan trọng trong vị trí gió chủ đạo. Biển được làm nóng bởi Mặt Trời chậm hơn bởi vì nước có nhiệt riêng lớn hơn so với đất.[45] Khi nhiệt độ bề mặt đất tăng liên, đất làm nóng không khí ở phía trên bằng sự truyền dẫn. Khí ấm loãng hơn môi trường xung quanh và nổi lên. Điều này tạo ra građien nhiệt khoảng 2 milibar từ đại dương đến đất liền. Không khí lạnh hơn ở trên biển, bây giờ với áp suất mực nước biển cao hơn (không gian trên biển là không gian mở, nên khi nhiệt độ giảm thì áp suất cao hơn do các phân tử khí dịch chuyển sát lại gần nhau, thể tích khối không khí co vào – còn nếu trong trường hợp là không gian kín thì xảy ra ngược lại), chảy về đất liền nơi có áp suấp thấp hơn, tạo ra gió lạnh hơn gần bờ biển. Khi gió quy mô lớn lặng lại, độ bền của gió biển tỷ lệ thuận với chênh lệch nhiệt độ giữa đất và biển. Nếu gió ngoài khơi 8 hải lý trên giờ (15 km/h) tồn tại, gió biển không có nhiều khả năng hình thành.

Vào buổi tối, đất lạnh đi nhanh hơn đại dương do sự chênh lệch giá trị nhiệt riêng của chúng. Sự thay đổi nhiệt độ này khiến gió biển ban ngày giải phóng nhiệt. Khi nhiệt độ phía bờ biển giảm xuống dưới nhiệt độ ngoài khơi, áp suất trên nước sẽ nhiều hơn áp suất trên đất, tạo ra gió đất, miễn là gió bờ biển không đủ mạnh để phản lại nó.[46]Ứng dụng của gió[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióGió theo Aristotle.

Vì là thế lực tự nhiên, gió thường được nhân hóa thành thần gió hoặc ví như năng lực siêu nhiên trong nhiều văn hóa. Vayu là thần gió Hindu.[47][48] Thần gió Hy Lạp bao gồm Boreas, Notus, Eurus, và Zephyrus.[48] Aeolus là người cai quản hoặc bảo hộ bốn loại gió, ông còn được mô tả là Astraeus, vị thần bóng tối có con là bốn loại gió với Nữ thần bình minh. Người Hy Lạp cổ đại cũng quan sát sự thay đổi theo mùa của gió, bằng chứng là Tháp Gió ở Athens.[48] Venti là thần gió La Mã.[49] Fūjin là thần gió Nhật Bản và là một trong những vị thần đạo lớn tuổi nhất. Theo truyền thuyết, ông có mặt lúc thế giới hình thành và cho gió ra khỏi túi của ông để làm sạch thế giới sương mù.[50] Trong thần thoại Bắc Âu, Njord là thần gió.[48] Cũng có bốn dvärgar (người lùn Bắc Âu), lần lượt là Norðri, Suðri, Austri và Vestri, và bốn con hươu đực của Yggdrasil, nhân hóa cho bốn loại gió, song song với bốn thần gió Hy Lạp.[51] Stribog là tên của thần gió, bầu trời và không khí trong thần thoại Slav. Người ta cho rằng ông ấy là tổ tiên (ông) của gió theo tám hướng.[48]

Giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióTrường bay RAF Exeter ngày 20 tháng 5 năm 1944, cho thấy bố trí của đường băng cho phép máy bay cất và hạ cánh theo gió

Có nhiều loại thuyền buồm khác nhau, nhưng chúng đều có chung những đặc điểm cơ bản. Ngoại trừ đối với thuyền rô tơ sở dụng hiệu ứng Magnus, mỗi thuyền buồm đều có một thân tàu, dây buồm và ít nhất một cột buồm để giữ buồm cung cấp năng lượng từ gió cho thuyền.[52] Các chuyến đi biển bằng thuyền buồm có thể kéo dài hàng tháng,[53] và một hiểm họa phổ biến là thuyền chững lại vì thiếu gió,[54] hoặc bị thổi lệch hướng bởi bão lớn hoặc gió mà không thổi về hướng mong muốn.[55] Một trận bão lớn có thể dẫn đến đắm tàu và mất lái.[56] Thuyền buồm cũng có thể mang theo đồ đạc chứa trong khoang, nên họ có thể lên kế hoạch cho chuyến đi biển dài một cách kỹ lưỡng để có lương thực thích hợp, bao gồm cả nước ngọt.[57]

Đối với máy bay khí động lực học, gió ảnh hưởng đến tốc độ máy bay trên đường băng,[58] và trong trường hợp các phương tiện nhẹ-hơn-không-khí, gió có thể đóng một vai trò đáng kể hoặc độc nhất trong việc dị chuyển và theo dõi mặt đất.[59] Vận tốc của gió bề mặt thường là yếu tố cơ bản quyết định hướng vận hành chuyến bay tại sân bay, và đường băng trường bay được xếp thành hàng theo hướng gió phổ biến của khu vực. Trong khi cất cánh với gió xuôi có thể có thể cần thiết trong một số trường hợp nhất định, gió ngược thường là lý tưởng. Gió xuôi làm tăng khoảng cách cất cánh cần thiết và giảm građien tăng độ cao.[60]

Năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióTurbine gió tạo ra điện từ năng lượng gió.Xem thêm: Năng lượng gió và Năng lượng gió trên cao

Trong lịch sử, người Sinhala cổ của Anuradhapura và các thành phố khác xung quanh Sri Lanka sử dụng gió mùa để cung cấp năng lượng cho lò luyện kim từ năm 300 TCN.[61] Lò luyện kim được xây dựng theo đường gió mùa để khai thác năng lượng gió, để tăng năng lượng bên trong lên đến 1.200 °C (2.190 °F). Một tham chiếu lịch sử về một chiếc cối xay gió thô sơ được sử dụng để cung cấp năng lượng cho đàn organ trong thế kỷ I.[62] Cối xay gió thực tế đầu tiên sau này được xây dựng ở Sistan, Afghanistan, từ thế kỷ VII. Cối xay gió này có trục thẳng đứng, có trục điều khiển thẳng dài với cánh quạt hình chữ nhật.[63] Được làm từ sáu đến mười hai tấm buồm phủ trên chiếu sậy hoặc vật liệu vải, loại cối xay gió này được sử dụng để xay ngô và dẫn nước, và được sử dụng trong cối xay bột và công nghiệp mía đường.[64] Cối xay gió trục nang sau này được sử dụng rộng rãi ở Bắc Âu để xay bột bắt đầu từ những năm 1180, và nhiều cối xay gió Hà Lan vẫn còn tồn tại. Năng lượng gió trên cao là trọng tâm của hơn 30 công ty toàn cầu bằng cách sử dụng công nghệ buộc thay vì những tháp gắn vào mặt đất.[65] Dầu được tiết kiệm bằng cách sử dụng gió để cung cấp năng lượng cho thuyền chở hàng bằng cách sử dụng năng lượng cơ học chuyển đổi từ động năng gió của diều rất lớn.[66]

Giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióOtto Lilienthal đang bay

Gió xuất hiện nổi bật trong một số môn thể thao phổ biến, bao gồm diều lượn, bay khinh khí cầu, thả diều, bay diều tuyết, lướt ván diều, lướt sóng diều, dù lượn, đua thuyền buồm, và lướt gió.Gió đứt[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Gió đứt

Gió đứt (tiếng Anh: Wind shear) là một sự khác biệt về tốc độ và hướng gió trong một khoảng cách tương đối ngắn trong bầu khí quyển quả đất.[67] Gió đứt khí quyển thường được phân tích thành 2 thành phần là gió đứt theo phương ngang và phương thẳng đứng. Gió đứt chiều dọc là sự thay đổi tốc độ gió hoặc hướng với sự thay đổi về độ cao.[68] Gió đứt chiều ngang là sự thay đổi tốc độ gió với sự thay đổi vị trí chiều cho một độ cao nhất định.[69]

Gió đứt là một hiện tượng khí tượng nhỏ xảy ra trong một khoảng cách rất nhỏ, nhưng nó có thể được kết hợp với các yếu tố đặc tính thời tiết quy mô trung bình hoặc lớn như đường cơn gió mạnh hoặc frông lạnh. Nó thường được quan sát gần các hệ thống gió mạnh gần mặt đất (downburst) hoặc nhỏ hơn (microburst) gây ra bởi các cơn dông,[70] frông, các cơn bão, các khu vực có gió thấp cấp địa phương gọi là low level jet, gần núi,[71] sự xâm nhập của bức xạ xảy ra do bầu trời trong lành và lặng gió, các tòa nhà,[72] tuabin gió[73] và thuyền buồm.[74] Gió đứt có ảnh hưởng đáng kể đến việc điều khiển máy bay trong quá trình cất cánh và hạ cánh[75] và là nguyên nhân chủ yếu gây ra các vụ tai nạn máy bay cướp đi sinh mạng của nhiều người ở Hoa Kỳ.[76]

Sự chuyển động của âm thanh qua bầu khí quyển bị ảnh hưởng bởi gió đứt, có thể uốn cong mặt trước của sóng, làm cho âm thanh được nghe ở nơi mà chúng thường không thể, hoặc ngược lại.[77] Gió đứt mạnh chiều dọc trong tầng đối lưu cũng ức chế sự phát triển của xoáy thuận nhiệt đới,[78] nhưng giúp cấu tạo các cơn dông riêng lẻ vào các chu kỳ sống dài hơn mà sau đó có thể tạo ra thời tiết khắc nghiệt.[79] Khái niệm gió nhiệt giải thích sự khác nhau về tốc độ gió ở các độ cao khác nhau phụ thuộc vào sự khác nhau về nhiệt độ theo chiều ngang và giải thích sự tồn tại của dòng tia (jet stream).[80]Vai trò trong thế giới tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tại khí hậu khô, nguồn xói mòn chính là do gió.[81]

Xói mòn[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióMột hệ tầng đá ở Altiplano, Bolivia, khắc bởi xói mòn gióXem thêm: Quá trình trầm tích gió

Xói mòn có thể là kết quả của dịch chuyển vật liệu bởi gió. Có hai hiệu ứng chính. Thứ nhất, gió khiến các hạt nhỏ được nâng lên và di chuyển đến vùng khác. Nó được gọi là sự thổi mòn. Thứ hai, những hạt lơ lửng có thể tác động vào các vật cứng tạo nên xói mòn bởi bào mòn (diễn thế sinh thái). Xói mòn gió thường xảy ra trong những khu vực có ít hoặc không có thực vật. Một ví dụ là sự hình thành của đụn cát, trên biển hoặc trong sa mạc.[82] Hoàng thổ là một loại trầm tích đồng nhất, thường không phân tầng, rỗng, dễ vụn, hơi dính, thời có vôi, hạt mịn, có bùn, vàng nhạt, phong thành.[83] Nó thường xảy ra theo kiểu lắng đọng dạng tấm trải ra mà bao phủ diện tích hàng trăm kilômét vuông và dày hàng chục mét. Hoàng thổ thường dốc hoặc thẳng.[84] Hoàng thổ có xu hướng phát triển thành đất rất màu mở. Dưới điều kiện khí hậu thích hợp, khu vực có hoàng thổ là một trong những nơi có hiệu quả nông nghiệp nhất thế giới.[85] Hoàng thổ lắng đọng tự nhiên không ổn định theo mặt địa chất, và sẽ dễ dàng xói mòn. Do đó, vật chắn gió (như là những bụi cây và cây lớn) và nông dân thường trồng cây lên để ngăn chặn hoàng thổ bị xói mòn gió.[81]

Dịch chuyển bụi sa mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng giữa hè (tháng 7 ở bán cầu bắc), gió mậu dịch di chuyển về phía tây ở phía nam rãnh cận nhiệt đới di chuyển về phía bắc mở rộng về phía tây bắc từ vùng Caribbe đến đông nam Bắc Mỹ. Khi bụi từ Sahara dịch chuyển quanh ngoại bên phía nam của rãnh trong vành đai gió mậu dịch di chuyển trên mặt đất, lượng mưa bị kìm lại và bầu trời thay đổi từ màu xanh da trời sang trắng, dẫn đến hoàng hôn đỏ hơn. Sự hiện diện của nó tác động xấu đến chất lượng không khí bằng việc thêm các hạt trôi nổi trên không.[86] Hơn 50% lượng bụi châu Phi tới Hoa Kỳ ảnh hưởng đến Florida.[87] Kể từ năm 1970, bùng nổ bụi đã trở nên trầm trọng hơn do các thời kỳ hạn hán ở châu Phi. Có một lượng lớn bụi chuyển đến Caribbe và Florida từ năm này qua năm khác.[88] Hiện tượng bụi này có liên quan sự giảm số lượng rạn san hô dọc Caribbe và Florida, chủ yếu kể từ những năm 1970.[89] Những chùm bụi tương tự bắt nguồn từ sa mạc Gobi, chúng kết hợp với các chất gây ô nhiễm, lan tỏa khoảng cách lớn theo gió, về hướng đông, đến Bắc Mỹ.[90]

Có nhiều tên địa phương cho các loại gió gắn liền với bão cát và bụi. Gió Calima mang bụi trên gió đông nam đến quần đảo Canary.[91] Gió Harmattan mang bụi trong mùa đông về vịnh Guinea.[92] Gió Sirocco mang bụi từ châu Phi đến nam Âu do dịch chuyển của xoáy thuận ngoài vùng nhiệt đới qua Địa Trung Hải.[93] Hệ thống bão mùa xuân di chuyển qua đông biển Địa Trung Hải mang bụi qua Ai Cập và bán đảo Ả Rập, nó được biết đến tại địa phương là Khamsin.[94] Gió Shamal tạo ra bởi frông lạnh nâng bụi vào khí quyển một lần kéo dài vài ngày qua các quốc gia Vịnh Ba Tư.[95]

Tác dụng vào thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Gió là gì |Tất tần tật về gióCây cỏ lăn bị thổi vào hàng ràoGió là gì |Tất tần tật về gióỞ rừng trên núi của Vườn quốc gia Olympic, gió thổi mở tán và tăng cường độ ánh sáng trên tầng dưới tán.Xem thêm: Phân tán hạt

Gió phân tán hạt, hoặc thực vật phát tán nhờ gió, có thể có một trong hai hình thức cơ bảo: hạt có thể nổi trên gió hoặc hạt bị bắn xuống đất.[96] Ví dụ cổ điển của cơ chế phân tán bao gồm bồ công anh (chi Địa đinh, họ Cúc), loại có một mào lông gắn với hạt và có thể phân tán qua khoảng cách dài, và cây phong (chi Phong, họ Bồ hòn), loại và hạt bị bắn xuống mặt đất. Một giới hạn quan trọng đối với phân tán gió là cần có lượng hạt dồi dào để tối đa hóa khả năng hạt rơi vào vị trí thích hợp để nảy mầm. Cũng có giới hạn phát triển lớn về cơ chế phân tán. Ví dụ, các loài thuộc họ Cúc trên đảo có xu hướng giảm khả năng phân tán (hạt lớn hơn và mào lông nhỏ hơn) so với các loài tương tự trên đất liền.[97] Sự phụ thuộc vào phân tán gió phổ biến với nhiều loại thực vật cỏ dại hoặc cây mọc nới đổ nát. Các cơ chế phân tán gió không bình thường bao gồm cây cỏ lăn. Một quá trình liên quan đến thực vật phân tán nhờ gió là thụ phấn nhờ gió, nó là quá trình mà phấn hoa được phân tán bởi gió. Nhiều họ cây thụ phấn theo cách này, nó có hiệu quả khi nhiều cá thể một loài cây mọc gần nhau.[98]

Gió cũng giới hạn sự phát triển của cây. Trên bờ biển và núi bị cô lập, hàng cây thường thấp hơn nhiều so với những cây ở độ cao tương ứng tại đát liền và ở hệ thống núi lớn, phức tạp hơn, bởi vì gió mạnh giảm sự phát triển của cây. Gió mạnh xới đi lớp đất mỏng qua quá trình xói mòn,[99] cũng như phá hoại cành và nhánh cây. Việc gió mạnh làm đổ hoặc bật rễ cây có khả năng cao nhất trên dốc hứng gió của núi, với các trường hợp nghiêm trọng thường xảy ra với cây lớn hơn hoặc bằng 75 năm tuổi.[100] Các giống cây gần bờ biển, như là picea sitchensis và nho biển,[101] được xén bởi gió và muối biển.[102]

Gió cũng có thể gây hư hại đến thực vật qua quá trình bào mòn cát. Gió mạnh sẽ nâng cát tơi và lớp đất cay và cuốn nó qua không khí với vận tốc khoảng từ 25 dặm Anh trên giờ (40 km/h) đến 40 dặm Anh trên giờ (64 km/h). Cát thổi bởi gió như vậy gây ra tổn hại lớn đến cây trồng từ hạt bởi vì nó làm nứt tế bào thực vật, làm chúng dễ bị tổn hại do bốc hơi và hạn hán. Bằng cách sử dụng thiết bị phun cát cơ học trong bối cảnh phòng thí nghiệm, các nhà khoa học liên kết với Cục Nghiên cứu Nông nghiệp Hoa Kỳ nghiên cứu hiệu ứng của bào mòn cát do gió lên cây bông giống. Nghiên cứu chỉ ra rằng cây giống phản ứng với tổn hại tạo ra bởi bào mòn cát bằng cách dịch chuyển năng lượng từ sự phát triển thân và rễ sang sự phát triển và tu sửa thân bị hư hại.[103] Sau một quá trình bốn tuần sự phát triển của cây giống một lần nữa đồng nhất trên toàn cây, như lúc trước khi bào mòn cát xảy ra.[104]

Tác dụng vào động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Gia súc và cừu dễ bị lạnh do sự kết hợp giữa gió và nhiệt độ lạnh, khi gió vượt quá 40 kilômét trên giờ (25 mph), khiến lông và lớp len phủ của chúng trở nên không hiệu quả.[105] Mặc dù chim cánh cụt sử dụng cả lớp mỡ và lông vũ để giúp bảo vệ bản thân khỏi cái lạnh do cả nước và không khí, chân chèo và chân của chúng ít miễn dịch với cái lạnh hơn. Ở những nơi khí hậu lạnh nhất như châu Nam Cực, cánh cụt hoàng đế có biểu hiện rúc vào nhau để tồn tại với gió và cái lạnh, liên tục thay đổi thành viên ở bên ngoài của nhóm, giúp giảm 50% sự mất nhiệt.[106] Côn trùng bay, một tiểu nhánh của động vật Chân khớp, bị cuốn đi bởi gió,[107] trong khi chim được hưởng lợi từ gió, kể cả bay hoặc lượn.[108] Như vậy, các họa tiết đường nét trong hình ảnh từ radar thời tiết, gắn liền với gió hội tụ, cho kết quả chủ yếu là côn trùng.[109] Chim di trú, thường xảy ra qua đêm ở độ cao thấp nhất 7.000 foot (2.100 m) của khí quyển Trái Đất, làm hỏng dữ liệu thu được từ radar thời tiết, đặc biệt là WSR-88D, bằng cách tăng kết quả gió từ 15 hải lý trên giờ (28 km/h) đến 30 hải lý trên giờ (56 km/h).[110]

Xem thêm:  Pvp là gì |Tất tần tật về pvp

Tạo ra âm thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Gió tạo ra âm thanh. Sự dịch chuyển của không khí khiến dịch chuyển các vật tự nhiên, như lá hay cỏ. Những vật này sẽ tạo ra âm thanh nếu chúng chạm vào nhau. Kể cả gió nhẹ sẽ tạo ra tiếng ồn môi trường mức độ nhẹ. Nếu gió thổi mạnh hơn, nó có thể tạo ra âm thanh với tần số khác nhau. Điều này có thể tạo ra bởi gió thổi trên lỗ hổng, hoặc bởi các xoáy khí được tạo ra phía dưới một vật thể.[111] Đặc biệt trên nhà cao tầng, nhiều phần cấu trúc có thể gây ra tiếng ồn khó chịu tại một số điều kiện gió. Ví dụ là ban công, lỗ thông gió, lỗ mái nhà hoặc dây cáp.Tác hại[sửa | sửa mã nguồn]

Tác hại của gió là một đợt gió từ cấp 7 và nhiều hơn nữa sẽ khiến cho những người đi bộ ngoài đường phải rất khó khăn vì phải cản lại sức gió, ở những cơn gió từ cấp 9 trở lên có thể khiến cho tốc các mái nhà. Còn ở vòi rồng thì tác hại của nó gấp nhiều lần các tác hại vừa rồi, một cơn vòi rồng có thể sẽ khiến một ngôi nhà tung ra khỏi móng, phá hủy giao thông thậm chí là chết người, gây thiệt hại rất nhiều.Gió trong vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]Gió là gì |Tất tần tật về gióLỗ đen khối lượng sao IGR J17091-3624Xem thêm: Gió sao

Gió Mặt Trời hơi khác với gió mặt đất, nó có nguồn gốc từ Mặt Trời, và nó được tạo thành từ các hạt mang điện thoát ra khỏi khí quyển Mặt Trời. Tương tự với gió Mặt Trời, gió hành tinh tạo thành từ khí nhẹ thoát ra khỏi khí quyển các hành tinh. Qua khoảng thời gian dài, gió hành tinh có thể thay đổi một cách triệt để thành phần của khí quyển các hành tinh.

Cơn gió lớn nhất từng được ghi nhận đến từ đĩa bồi tụ của hố đen IGR J17091-3624. Vận tốc của nó là 20.000.000 dặm Anh một giờ (32.000.000 km/h), bằng 3% vận tốc ánh sáng.[112]

Gió hành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thoát ly khí quyểnGió là gì |Tất tần tật về gióTương lai có thể xảy ra đối với Trái Đất do gió hành tinh: Sao Kim

Gió thủy động lực học trong phần trên của khí quyển hành tinh cho phép các nguyên tố hóa học nhẹ như hiđrô di chuyển lên đáy tầng ngoài, giới hạn dưới của tầng ngoài, nơi khí có thể đạt tới vận tốc thoát ly, đi vào vũ trụ mà không tác động đến các hạt khí khác. Việc mất khí từ một hành tinh vào vũ trụ này được gọi là gió hành tinh.[113] Quá trình này trải qua thời gian địa chất khiến các hành tinh nhiều nước như Trái Đất phát triển thành các hành tinh như sao Kim.[114] Ngoài ra, hành tinh với khí quyển dưới nóng hơn có thể gia tốc tốc độ mất hiđrô.[115]

Gió Mặt Trời[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gió Mặt Trời

Thay vì khí, gió Mặt Trời là một dòng hạt mang điện—plasma—phát ra từ tầng khí quyển trên của Mặt Trời với tốc độ 400 kilômét trên giây (890.000 mph). Nó chủ yếu bao gồm electron và proton với năng lượng khoảng 1 keV. Dòng hạt thay đổi theo nhiệt độ và vận tốc qua thời gian. Những hạt này có thể thoát khỏi trọng lực của Mặt Trời, một phần bởi vì nhiệt độ cao của vành nhật hoa,[116] nhưng cũng bởi vì động năng cao mà các hạt đạt được qua một quá trình mà chưa được hiểu rõ. Gió Mặt Trời tạo ra nhật quyển, một bong bóng lớn ở môi trường liên sao xung quanh Hệ Mặt Trời.[117] Các hành tinh cần có từ trường lớn để giảm sự điện ly của khí quyển trên bởi gió Mặt Trời.[115] Các hiện tượng khác tạo ra bởi gió Mặt Trời bao gồm bão từ mà có thể hạ lưới điện của Trái Đất,[118] hiện tượng cực quang như là Northern Lights,[119] và đuôi plasma của sao chổi luôn hướng về phía Mặt Trời.[120]Trên các hành tinh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Gió mạnh 300 kilômét trên giờ (190 mph) tại những đám mây cao trên sao Kim xoay quanh hành tinh này mỗi bốn đến năm ngày Trái Đất.[121] Khi các cực của sao Hỏa được ánh nắng Mặt Trời chiếu vào sau mùa đông, CO2 đông lạnh thăng hoa, tạo ra lượng gió đáng kể quét qua các cực nhanh tới 400 kilômét trên giờ (250 mph), sau đó chúng vận chuyển một lượng lớn bụi và nước bốc hơi qua phong cảnh của nó.[122] Các loại gió sao Hỏa khác tạo ra các sự kiện dọn sạch và lốc cát.[123][124]

  • Gió là gì |Tất tần tật về gióKhí quyển Sao Kim
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióKhí quyển Sao Hỏa, chụp bởi Curiosity (tàu thăm dò)
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióDòng tia và một số luồng xoáy của Sao Mộc. Đường màu xanh lá cây nhạt chỉ dòng tia ở rìa nam của Đới Xích đạo. Đường màu vàng là đường biên của luồng xoáy Vết Đỏ Lớn. Các đĩa nhiều màu bị kéo dài và méo dần đi vì gió thổi trong dòng tia minh họa cho sự đối lưu của khí quyển dưới tác động của dòng tia.
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióVệt Trắng Lớn trên Sao Thổ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vòi rồng
  • Mây
  • Sương mù
  • Mưa
  • Khí hậu học
  • Hiệu ứng Küssner
  • Kỹ thuật gió
  • Sóng biển
  • Danh sách gió địa phương
  • Gió bắc
  • Gió nam
  • Gió tây
  • Gió đông

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ JetStream (2008). “Origin of Wind – Nguồn gốc gió” (bằng tiếng Anh). National Weather Service Southern Region Headquarters. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
  2. ^ Makarieva, Anastassia; V. G. Gorshkov, D. Sheil, A. D. Nobre, B.-L. Li (tháng 2 năm 2013). “Gió đến từ đâu? Một lý thuyết mới về cách hơi nước ngưng tụ ảnh hưởng đến áp suất khí quyển và động lực”. Hóa học khí quyển và Vật lý (bằng tiếng Anh). 13(2): 1039–1056. Bibcode:2013ACP….13.1039M. doi:10.5194/acp-13-1039-2013. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2013.
  3. ^ Từ vực khí tượng học (2009). “Gió aliza” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  4. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Gió nhiệt” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  5. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Gió ageostrophic” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  6. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Gió gradien” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  7. a b JetStream (2008). “How to read weather maps”. National Weather Service. Bản gốclưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
  8. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Wind vane” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  9. ^ Glossary of Meteorology (2009). “Cờ gió” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  10. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Phong kế” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  11. ^ Từ vựng khí tượng học (2009). “Ống pitot” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  12. ^ Tropical Cyclone Weather Services Program (ngày 1 tháng 6 năm 2006). “Định nghĩa khí xoáy nhiệt đới” (PDF) (bằng tiếng Anh). National Weather Service. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2006.
  13. ^ Office of the Federal Coordinator for Meteorology. Sổ tay Liên đoàn Khí tượng thứ nhất  – Quan sát thời tiết bề mặt và Báo cáo Tháng 9 năm 2005 Phụ lục A: Từ vựng.Retrieved 2008-04-06.
  14. ^ Sharad K. Jain, Pushpendra K. Agarwal, Vijay P. Singh (2007). Thủy văn và Nguồn nước của Ấn Độ (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 187. ISBN 978-1-4020-5179-1. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2009.
  15. ^ Jan-Hwa Chu (1999). “Phần 2. Quan sát cường độ và dự báo lỗi” (bằng tiếng Anh). United States Navy. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2008.
  16. ^ Glossary of Meteorology (2009). “Rawinsonde”. American Meteorological Society. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  17. ^ Glossary of Meteorology (2009). “Pibal”. American Meteorological Society. Bản gốclưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009.
  18. a b Walter J. Saucier (2003). Principles of Meteorological Analysis (bằng tiếng Anh). Courier Dover Publications. ISBN 978-0-486-49541-5. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2009.
  19. ^ Từ vựng Khí hậu học (2009). “G” (bằng tiếng Anh). American Meteorological Society. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  20. ^ Từ vựng Khí tượng học (2009). “Bão” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  21. ^ Coastguard Southern Region (2009). “Thang gió Beaufort” (bằng tiếng Anh). Bản gốclưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  22. ^ “Enhanced F Scale for Tornado Damage”. Storm Prediction Center. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2009.
  23. ^ Murphy, John D. (ngày 9 tháng 7 năm 2018). “National Weather Service Instruction 10-1605” (PDF). National Weather Service. tr. A–74–75. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  24. ^ “Giải mã mô hình trạm đo”. Trung tâm Dự đoán Khí tượng thủy văn (bằng tiếng Anh). Trung tâm Dự đoán Môi trường Quốc gia. 2009. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2007.
  25. ^ Terry T. Lankford (2000). Sổ tay Thời tiết Hàng không (bằng tiếng Anh). McGraw-Hill Professional. ISBN 978-0-07-136103-3. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2008.
  26. ^ The Physics of Wind Turbines. Kira Grogg Carleton College (2005) p. 8. (PDF). Truy cập 2011-11-03.
  27. ^ Michael A. Mares (1999). Encyclopedia of Deserts (bằng tiếng Anh). Nhà in Đại học Oklahoma. tr. 121. ISBN 978-0-8061-3146-7. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  28. ^ Từ vựng Khí tượng học (2000). “Gió mậu dịch” (bằng tiếng Anh). American Meteorological Society. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008.
  29. a b Ralph Stockman Tarr và Frank Morton McMurry (1909). Địa lý nâng cao (bằng tiếng Anh). W.W. Shannon, State Printing. tr. 246. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009.
  30. ^ Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (2006). “3.3 JTWC Triết học Dự báo” (PDF)(bằng tiếng Anh). Hải quân Hoa Kỳ. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2007.
  31. ^ “Bụi châu Phi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng chất lượng khí Đông Nam Mỹ”. Science Daily (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  32. ^ Từ vựng Khí tượng học (2009). “Gió mùa” (bằng tiếng Anh). Cộng đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008.
  33. ^ “Chapter-II Monsoon-2004: Onset, Advancement and Circulation Features” (PDF)(bằng tiếng Anh). National Centre for Medium Range Forecasting. ngày 23 tháng 10 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008.
  34. ^ “Gió mùa” (bằng tiếng Anh). Australian Broadcasting Corporation. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008.
  35. ^ Alex DeCaria (ngày 2 tháng 10 năm 2007). “Bài 4 – Trường gió trung bình-theo mùa”(PDF) (bằng tiếng Anh). Khí tượng học Millersville. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008.
  36. ^ Từ vựng Khí tượng học (2009). “Gió tây” (bằng tiếng Anh). Hội đồng Khí tượng học Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009.
  37. ^ Sue Ferguson (ngày 7 tháng 9 năm 2001). “Khí hậu học vùng trũng nội sông Columbia” (PDF) (bằng tiếng Anh). Interior Columbia Basin Ecosystem Management Project. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2009.
  38. ^ Halldór Björnsson (2005). “Tuần hoàn toàn cầu” (bằng tiếng Anh). Veðurstofu Íslands. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008.
  39. ^ National Environmental Satellite, Data, and Information Service (2009). “Nghiên cứu dòng hải lưu Gulf Stream” (bằng tiếng Anh). Đại học Bắc Bang Carolina. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009.
  40. ^ Stuart Walker (1998). The sailor’s wind. W. W. Norton & Company. tr. 91. ISBN 978-0-393-04555-0. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009. Roaring Forties Shrieking Sixties westerlies.
  41. ^ Barbie Bischof; Arthur J. Mariano; Edward H. Ryan (2003). “The North Atlantic Drift Current”. The National Oceanographic Partnership Program. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008.
  42. ^ Erik A. Rasmussen; John Turner (2003). Polar Lows. Cambridge University Press. tr. 68.
  43. ^ Từ vựng Khí tượng học (2009). “Gió đông cực” (bằng tiếng Anh). Hội đồng Khí tượng Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009.
  44. ^ Michael E. Ritter (2008). “Môi trường vật lý: Tuần hoàn quy mô toàn cầu” (bằng tiếng Anh). Đại học Wisconsin–Stevens Point. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2009.
  45. ^ Steve Ackerman (1995). “Gió biển và gió đất” (bằng tiếng Anh). Đại học Wisconsin. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2006.
  46. ^ JetStream: An Online School For Weather (2008). “The Sea Breeze” (bằng tiếng Anh). National Weather Service. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2006.
  47. ^ Laura Gibbs (ngày 16 tháng 10 năm 2007). “Vayu” (bằng tiếng Anh). Encyclopedia for Epics of Ancient India. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2009.
  48. a b c d e Michael Jordan (1993). Encyclopedia of Gods: Over 2, 500 Deities of the World(bằng tiếng Anh). New York: Facts on File. tr. 5, 4 80, 187–188, 243, 280, 295. ISBN 0-8160-2909-1.
  49. ^ Theoi Greek Mythology (2008). “Anemi: Thần gió Hy Lạp” (bằng tiếng Anh). Aaron Atsma. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009.
  50. ^ John Boardman (1994). Sự lan tỏa nghệ thuật cổ điển thời cổ đại (bằng tiếng Anh). Nhà in Đại học Princeton. ISBN 0-691-03680-2.
  51. ^ Andy Orchard (1997). Từ điển Thần thoại và Huyền thoại Bắc Âu (bằng tiếng Anh). Cassell. ISBN 978-0-304-36385-8.
  52. ^ Ernest Edwin Speight; Robert Morton Nance (1906). Câu truyện biển của Anh, 55 TCN-1805 SCN (bằng tiếng Anh). Hodder và Stoughton. tr. 30. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  53. ^
  54. ^ Jerry Cardwell (1997). Sailing Big on a Small Sailboat (bằng tiếng Anh). Sheridan House, Inc. tr. 118. ISBN 978-1-57409-007-9. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  55. ^ Brian Lavery; Patrick O’Brian (1989). Hải quân của Nelson (bằng tiếng Anh). Nhà in học viện hải quân. tr. 191. ISBN 978-1-59114-611-7. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  56. ^ Underwater Archaeology Kids’ Corner (2009). “Đắm thuyền, đắm thuyền khắp hơn”(bằng tiếng Anh). Cộng đồng lịch sử Wisconsin. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  57. ^ Carla Rahn Phillips (1993). Thế giới của Christopher Columbus (bằng tiếng Anh). Nhà in Đại học Cambridge. tr. 67. ISBN 978-0-521-44652-5. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  58. ^ Tom Benson (2008). “Relative Velocities: Aircraft Reference” (bằng tiếng Anh). Trung tâm Nghiên cứu Glenn NASA. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  59. ^ Library of Congress (ngày 6 tháng 1 năm 2006). “Giấc mơ bay” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  60. ^ “Đường bay” (PDF) (bằng tiếng Anh). Sân bay Bristol. 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  61. ^ G. Juleff (1996). “Gió cổ cung cấp năng lượng cho công nghệ luyện sắt ở Sri Lanka”. Nature (bằng tiếng Anh). 379 (3): 60–63. Bibcode:1996Natur.379…60J. doi:10.1038/379060a0.
  62. ^ A.G. Drachmann (1961). “Cối xay gió của Heron”. Centaurus (bằng tiếng Anh). 7: 145–151.
  63. ^ Ahmad Y Hassan và Donald Routledge Hill (1986). Islamic Technology: An illustrated history (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 54. ISBN 0-521-42239-6.
  64. ^ Donald Routledge Hill (tháng 5 năm 1991). Mechanical Engineering in the Medieval Near EastScientific American (bằng tiếng Anh). tr. 64–69.
  65. ^ Dietrich Lohrmann (1995). “Von der östlichen zur westlichen Windmühle”. Archiv für Kulturgeschichte77 (1): 1–30. doi:10.7788/akg.1995.77.1.1.
  66. ^ “SKYSAILS – WINDPOWER NEXT LEVEL” (bằng tiếng Anh). SkySails. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017.
  67. ^ D. C. Beaudette (1988). “FAA Advisory Circular Pilot Wind Shear Guide via the Internet Wayback Machine” (PDF). Federal Aviation Administration. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009.
  68. ^ Glossary of Meteorology (2007). “E”. American Meteorological Society. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2007.
  69. ^ David M. Roth (2006). “Unified Surface Analysis Manual” (PDF). Hydrometeorological Prediction Center. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2006.
  70. ^ Cheryl W. Cleghorn (2004). “Making the Skies Safer From Windshear”. NASALangley Air Force Base. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2006.
  71. ^ National Center for Atmospheric Research (Spring 2006). “T-REX: Catching the Sierra’s waves and rotors”. University Corporation for Atmospheric Research Quarterly. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2009.
  72. ^ Hans M. Soekkha (1997). Aviation Safety. VSP. tr. 229. ISBN 978-90-6764-258-3. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2009.
  73. ^ Robert Harrison (2001). Large Wind Turbines. Chichester: John Wiley & Sons. tr. 30. ISBN 978-0-471-49456-0.
  74. ^ Ross Garrett (1996). The Symmetry of Sailing. Dobbs Ferry: Sheridan House. tr. 97–99. ISBN 978-1-57409-000-0.
  75. ^ Gail S. Langevin (2009). “Wind Shear”. National Aeronautic and Space Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007.
  76. ^ Gail S. Langevin (2009). “Wind Shear”. National Aeronautic and Space Administration. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007.
  77. ^ Rene N. Foss (tháng 6 năm 1978). Ground Plane Wind Shear Interaction on Acoustic Transmission (Bản báo cáo). WA-RD 033.1. Washington State Department of Transportation. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2007.
  78. ^ University of Illinois (1999). “Hurricanes”. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006.
  79. ^ University of Illinois (1999). “Vertical Wind Shear”. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006.
  80. ^ Integrated Publishing (2007). “Unit 6—Lesson 1: Low-Level Wind Shear”. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2009.
  81. a b Vern Hofman; Dave Franzen (1997). “Canh tác khẩn cấp để quản lý xói mòn gió”. Đại học Bắc Bang Dakota Extension Service. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009.
  82. ^ Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (2004). “Đụn cát – Bắt đầu” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009.
  83. ^ F. von Richthofen (1882). “Ở mức độ bắt đầu hoàng thổ”. Geological Magazine (Decade II) (bằng tiếng Anh). 9 (7): 293–305. doi:10.1017/S001675680017164X.
  84. ^ K.E.K. Neuendorf; J.P. Mehl, Jr.; J.A. Jackson (2005). Từ vựng Địa chất (bằng tiếng Anh). Springer-Verlag, New York. tr. 779. ISBN 3-540-27951-2.
  85. ^ Arthur Getis; Judith Getis and Jerome D. Fellmann (2000). Giới thiệu về Địa lý, ấn bản thứ bảy (bằng tiếng Anh). McGraw-Hill. tr. 99. ISBN 0-697-38506-X.
  86. ^ Science Daily (ngày 14 tháng 7 năm 1999). “Bụi châu Phi là một yếu tố quan trọng tác động tới chất lượng khí Đông Nam Hoa Kỳ” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  87. ^ Science Daily (ngày 15 tháng 6 năm 2001). “Microbes And The Dust They Ride In On Pose Potential Health Risks” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  88. ^ Usinfo.state.gov (2003). “Nghiên cứu nói rằng bụi châu Phi ảnh hưởng đến thời tiết Hoa Kỳ, Caribbe” (PDF) (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  89. ^ U. S. Geological Survey (2006). “San hô chết và bụi châu Phi” (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  90. ^ James K. B. Bishop, Russ E. Davis, and Jeffrey T. Sherman (2002). “Robotic Observations of Dust Storm Enhancement of Carbon Biomass in the North Pacific”(PDF). Science298 (5594): 817–821. Bibcode:2002Sci…298..817B. doi:10.1126/science.1074961. PMID 12399588. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  91. ^ Thời tiết trực tuyến (2009). “Calima” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009.
  92. ^ Henrik Breuning-Madsen and Theodore W. Awadzi (2005). “Bụi Harmattan lắng đọng và kích thước hạt ở Ghana”. Catena (bằng tiếng Anh). 63 (1): 23–38. doi:10.1016/j.catena.2005.04.001.
  93. ^ Thời tiết trực tuyến (2009). “Sirocco (Scirocco)” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009.
  94. ^ Bill Giles (O.B.E) (2009). “Khamsin” (bằng tiếng Anh). BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009.
  95. ^ Thomas J. Perrone (tháng 8 năm 1979). “Bảng nội dung: Khí hậu học gió của Shamal mùa đông” (bằng tiếng Anh). United States Navy. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009.
  96. ^ J. Gurevitch; S. M. Scheiner; G. A. Fox (2006). Sinh thái Thực vật, tái bản lần 2(bằng tiếng Anh). Sinauer Associates, Inc., Massachusetts.
  97. ^ M. L. Cody and J. M. Overton (1996). “Phát triển ngắn hạn của phân tán suy giảm trên thực vật trên đảo”. Tạp chí Sinh thái (bằng tiếng Anh). 84: 53–61. doi:10.2307/2261699. JSTOR 2261699.
  98. ^ A. J. Richards (1997). Hệ thống gây giống cây (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. tr. 88. ISBN 978-0-412-57450-4. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009.
  99. ^ Leif Kullman (2005). “Wind-Conditioned 20th Century Decline of Birch Treeline Vegetation in the Swedish Scandes” (PDF). Arctic (bằng tiếng Anh). 58 (3): 286–294. doi:10.14430/arctic430. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  100. ^ Mathieu Bouchard; David Pothier; Jean-Claude Ruel (2009). “Stand-replacing windthrow in the boreal forests of eastern Quebec”. Canadian Journal of Forest Research(bằng tiếng Anh). 39 (2): 481–487. doi:10.1139/X08-174.
  101. ^ Michael A. Arnold (2009). “Nho biển” (PDF) (bằng tiếng Anh). Đại học Texas A&M. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  102. ^ National Park Service (ngày 1 tháng 9 năm 2006). “Thực vật” (bằng tiếng Anh). Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  103. ^ ARS Studies Effect of Wind Sandblasting on Cotton Plants / ngày 26 tháng 1 năm 2010 / News from the USDA Agricultural Research Service. Ars.usda.gov. Truy cập 2011-11-03.
  104. ^ “Nghiên cứu hiệu ứng thổi cát lên cây bông AR” (bằng tiếng Anh). Cục Nghiên cứu Nông nghiệp USDA. ngày 26 tháng 1 năm 2010.
  105. ^ D. R. Ames; L. W. lnsley (1975). “Tác động của gió lạnh đối với gia súc và cừu”. Tạp chí Khoa học Động vật (bằng tiếng Anh). 40 (1): 161–165. PMID 1110212.
  106. ^ Australian Antarctic Division (ngày 8 tháng 12 năm 2008). “Thích nghi với cái lạnh”(bằng tiếng Anh). Australian Government Department of the Environment, Water, Heritage, and the Arts Australian Antarctic Division. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  107. ^ Diana Yates (2008). “Birds migrate together at night in dispersed flocks, new study indicates” (bằng tiếng Anh). Đại học Illinois tại Urbana – Champaign. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2009.
  108. ^ Gary Ritchison (ngày 4 tháng 1 năm 2009). “BIO 554/754 Ornithology Lecture Notes 2 – Bird Flight I” (bằng tiếng Anh). Đại học Đông Kentucky. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009.
  109. ^ Bart Geerts; Dave Leon (2003). “P5A.6 Fine-Scale Vertical Structure of a Cold Front As Revealed By Airborne 95 GHZ Radar” (PDF) (bằng tiếng Anh). Đại học Wyoming. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2009.
  110. ^ Thomas A. Niziol (tháng 8 năm 1998). “Contamination of WSR-88D VAD Winds Due to Bird Migration: A Case Study” (PDF) (bằng tiếng Anh). Eastern Region WSR-88D Operations Note No. 12. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2009.
  111. ^ “Gió tạo ra âm thanh bằng cách nào” (bằng tiếng Anh). Diễn đàn Vật lý. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2017.
  112. ^ Ashley King; và đồng nghiệp (ngày 21 tháng 2 năm 2012). “Chandra Finds Fastest Winds from Stellar Black Hole” (bằng tiếng Anh). NASA. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012.
  113. ^ Ruth Murray-Clay (2008). “Thoát ly khí quyển sao Mộc nóng & tương tác giữa gió hành tinh và gió sao” (PDF) (bằng tiếng Anh). Đại học Boston. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
  114. ^ E. Chassefiere (1996). “Thoát ly thủy động lực học của hiđrô từ khí quyển giàu nước nóng: trường hợp của sao Kim”. Tạp chí nghiên cứu địa vật lý (bằng tiếng Anh). 101(11): 26039–26056. Bibcode:1996JGR…10126039C. doi:10.1029/96JE01951.
  115. a b Rudolf Dvořák (2007). Ngoại hành tinh (bằng tiếng Anh). Wiley-VCH. tr. 139–140. ISBN 978-3-527-40671-5. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
  116. ^ David H. Hathaway (2007). “Gió Mặt Trời”. National Aeronautic and Space Administration Marshall Space Flight Center. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  117. ^
  118. ^ John G. Kappenman; và đồng nghiệp (1997). “Geomagnetic Storms Can Threaten Electric Power Grid”. Earth in Space9 (7): 9–11. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  119. ^ T. Neil Davis (ngày 22 tháng 3 năm 1976). “Nguyên nhân Cực quang”. Diễn dàn Khoa học Alaska. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2009.
  120. ^ Donald K. Yeomans (2005). “World Book at NASA: Comets”. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
  121. ^ W. B. Rossow, A. D. del Genio, T. Eichler (1990). “Cloud-tracked winds from Pioneer Venus OCPP images”. Tạp chí Khoa học Khí quyển (bằng tiếng Anh). 47 (17): 2053–2084. Bibcode:1990JAtS…47.2053R. doi:10.1175/1520-0469(1990)047<2053:CTWFVO>2.0.CO;2. ISSN 1520-0469.
  122. ^
  123. ^ NASA – NASA Mars Rover Churns Up Questions With Sulfur-Rich Soil. Nasa.gov. Truy cập 2011-11-03.
  124. ^ David, Leonard (ngày 12 tháng 3 năm 2005). “Spirit Gets A Dust Devil Once-Over”. Space.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2006.
Xem thêm:  Bandwagon là gì |Tất tần tật về bandwagon

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Thiên nhiên
  • Gió là gì |Tất tần tật về gió Phương tiện liên quan tới Wind tại Wikimedia Commons
  • Gió tại Từ điển bách khoa Việt Nam
  • Anemometer wind speed measurement
  • Wind (meteorology) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Địa chất học
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Thiên văn học
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Sao Hỏa
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Hàng không
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Hệ Mặt Trời
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Sao
  • Gió là gì |Tất tần tật về gióCổng thông tin Vật lý
hiệnDữ liệu và biến số khí tượng
hiệnCác chủ đề chính trong cơ học chất lưu
hiệnThiên tai
hiệnCác thành phần tự nhiên

Thể loại:

  • Khí tượng học
  • Gió
  • Thời tiết
  • Hiện tượng và khái niệm khí tượng
  • Bài viết đang trong quá trình hoàn thiện

Thể loại ẩn:

  • Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
  • Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả
  • Trang có tham số chú thích không rõ
  • Quản lý CS1: sử dụng tham số tác giả
  • Lỗi CS1: mã đánh dấu
  • Bài cơ bản
  • Bài viết chứa nhận dạng GND
  • Bài viết chứa nhận dạng NDL

Kiến thức

Gió là gì? Có mấy loại? Nguyên nhân nào sinh ra gió?

21/06/2021 – by

Gió tồn tại khắp mọi nơi xung quanh cuộc sống của con người và sinh vật trên Trái Đất. Tuy nhiên, các bạn có thực sự hiểu rõ gió hay không? Hãy cùng muahangdambao.com khám phá gió là gì và các thông tin thú vị liên quan trong bài viết sau đây nhé!Gió là gì?

Gió tiếng Anh là Wind, là các luồng không khí chuyển động trên quy mô lớn trong không gian.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là các luồng không khí chuyển động trong không gian

Đối với Trái Đất, gió là các luồng không khí lớn chuyển động trong không gian. Còn đối với không gian, gió Mặt Trời là các chất khí hoặc các hạt tích điện từ Mặt Trời vào không gian chuyển động. Gió hành tinh được hình thành khi xảy ra sự thoát khí của các nguyên tố hóa học nhẹ từ khí quyển của một hành tinh vào không gian.Nguyên nhân sinh ra gió là gì?

“Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ đâu?” thì câu trả lời chính là do sự khác biệt trong áp suất khí quyển. Hiện tượng này dẫn đến việc không khí có xu hướng di chuyển từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp, điều này lý giải vì sao các cơn gió có tốc độ khác nhau.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Nguyên nhân hình thành gió

Ngoài ra, không thể bỏ qua hiệu ứng Coriolis (trừ đường xích đạo) làm không khí bị chệch hướng và sinh ra gió.

Về quy mô của gió thì việc tạo nên quy mô gió lớn (hoàn lưu khí quyển) phụ thuộc chủ yếu vào sự khác biệt về nhiệt độ giữa xích đạo và các cực hay sự quay của các hành tinh. Do ma sát của bề mặt Trái Đất nên gió có xu hướng đạt đến sự cân bằng và tốc độ cũng chậm hơn.Các loại gió chính trên Trái Đất

Chúng ta phân loại các loại gió khác nhau chủ yếu dựa trên hướng gió thổi như sau.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Các loại gió chính

Gió mậu dịch (gió Tín phong)

Đây là loại gió thường thổi trong các miền cận xích đạo với phạm vi hoạt động là ở 300 về phía xích đạo.

Nguyên nhân hình thành là do sự chênh lệch về lượng khí áp từ vùng khí áp cao xuống vùng khí áp thấp (từ chí tuyến xuống xích đạo).

  • Hướng gió:

–  Bán cầu Bắc: gió mậu dịch chủ yếu thổi theo hướng Đông Bắc – Tây Nam.

–  Bán cầu Nam: gió mậu dịch thổi theo hướng Đông Nam – Tây Bắc.

  • Thời gian hoạt động: quanh năm, nhưng chủ yếu là vào mùa hè.
  • Tính chất: khô và ít mưa.

Gió Tây ôn đới

Đây là loại gió thường thổi từ các khu áp cao cận nhiệt đới về các khu áp thấp ôn đới với phạm vi hoạt động là ở vĩ độ trung bình giữa 35 và 360.

  • Hướng gió chính là từ Tây sang Đông, trong đó, bán cầu Bắc là Tây Nam và bán cầu Nam là Tây Bắc.
  • Thời gian hoạt động: quanh năm, nhưng mạnh nhất là vào mùa đông khi áp suất ở các cực thấp hơn. Còn mùa hè, loại gió này hoạt động yếu hơn do áp suất ở các cực cao hơn.
  • Tính chất: do xuất phát từ khu áp cao cận nhiệt đới nên loại gió này thường mang theo độ ẩm rất cao và lượng mưa lớn.

Gió Đông cực

Đây là loại gió thường thổi từ vùng áp suất cao ở Bắc cực và Nam cực về phía áp suất thấp trong vùng gió Tây với phạm vi hoạt động từ 900 Bắc và Nam về vĩ tuyến 600 Bắc và Nam.

  • Hướng gió chính là từ Đông sang Tây, hướng Đông Bắc và Đông Nam.
  • Thời gian hoạt động: quanh năm nhưng hoạt động yếu và không đều.
  • Tính chất: lạnh và khô.

Gió địa phương

Gió địa phương là các loại gió thổi từ các vùng khác nhau khi đến Việt Nam chịu ảnh hưởng địa hình mà có đặc điểm khác. Gió địa phương bao gồm gió biển, gió đất và gió phơn. Trong đó:

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió biển và gió đất hình thành ở ven biển

Gió biển, gió đất là loại gió được hình thành ở ven biển với hướng gió thay đổi theo ngày và đêm. Ban ngày hướng gió thổi từ biển vào đất liền, còn ban đêm thì gió lại thổi từ đất liền ra biển, cho nên tính chất của hai loại gió này cũng khác nhau.

  • Gió biển: thường mang theo độ ẩm cao và tạo cảm giác mát mẻ, dễ chịu.
  • Gió đất: thường có tính chất khô hanh.

Gió phơn là loại gió bị biến tính khi vượt qua các dãy núi hay vùng cao. Loại gió này thường mang theo độ ẩm cao nhưng khi đi qua các dãy núi thì bị chặn lại và biến thành khô, nóng.

Tại Việt Nam, gió phơn Tây Nam (hay còn gọi là gió Lào, gió Tây) thường hoạt động mạnh ở vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ vào đầu hạ.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió phơn mang tính chất khô, nóng

Nguồn gốc của loại gió này là từ Bắc Ấn Độ Dương, sau khi vượt qua dãy Trường Sơn thì bị biến đổi tính chất, tạo nên sự khác biệt về thời tiết giữa hai bên dãy núi. Trong đó, sườn Tây (sườn đón gió) có tính chất ẩm, còn sườn Đông (sườn khuất gió) thì nóng và khô.

Ngoài ra, ở nước ta cũng tồn tại hai loại gió đặc trưng của mùa đông và mùa hè là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc (gió bấc). Trong đó:

  • Mùa gió Đông Bắc diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4, tạo nên mùa đông lạnh, mưa phùn ở miền Bắc và mùa khô nóng ở miền Nam.
  • Mùa gió Tây Nam diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, tạo nên mùa hè nóng ẩm kèm mưa to, giông bão trên cả nước, với dạng thời tiết đặc biệt là gió Tây kèm mưa ngâu và bão.

Vai trò và ứng dụng của gió trong thực tế

  • Gió có vai trò quan trọng trong đời sống, góp phần tạo nên bản chất thời tiết của một vùng, khu vực và quốc gia.
  • Gió cũng tác động trực tiếp đến các hoạt động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
  • Ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ nguồn năng lượng gió. Năng lượng gió là nguồn năng lượng tự nhiên sạch để thay thế cho các nguồn năng lượng độc hại khác, giúp bảo vệ môi trường và tiết kiệm chi phí đầu tư.
Gió là gì |Tất tần tật về gió
Nguồn năng lượng gió bảo vệ môi trường
  • Trong khoa học, việc nghiên cứu tốc độ, hướng di chuyển của gió giúp dự báo thời tiết chính xác hơn.
  • Trong giao thông vận tải đường thủy, ứng dụng trong việc thiết kế tàu thuyền.
  • Trong thể thao, gió được nghiên cứu và ứng dụng trong các môn thể thao liên quan đến hướng gió như cầu lông, bóng bàn, lướt ván, lướt sóng…

Tác hại của gió là gì?

Bên cạnh các lợi ích to lớn, gió cũng tiềm ẩn các nguy cơ khôn lường từ chính nguồn sức mạnh khủng khiếp này.

Nếu tốc độ gió mạnh, quy mô lớn có thể gây ra thiệt hại về vật chất và gây nguy hiểm cho con người.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Tốc độ gió mạnh gây nên lốc xoáy nguy hiểm

Gió từ cấp 7 trở lên có thể gây cản trở trong việc di chuyển bên ngoài. Còn gió từ cấp 9 trở lên có thể gây ra tình trạng bão tố, lốc xoáy làm tốc mái nhà cửa, thậm chí là các công trình xây dựng.

Do đó, công tác dự báo thời tiết, đặc biệt là trên biển, về tốc độ và hướng di chuyển của gió cần được chú trọng đặc biệt. Điều này giúp các tàu thuyền đang hoạt động trên biển có thể nhanh chóng tìm nơi neo đậu kịp thời để tránh nguy hiểm về giông, lốc và gió giật mạnh.Xem thêm: Từ trường là gì? Tính chất, cách nhận biết và ứng dụng của từ trường

Trên đây là tổng hợp kiến thức liên quan đến gió. Gió là một sự tồn tại gần gũi nhưng chứa đựng rất nhiều bí ẩn và sức mạnh không ngờ. Hy vọng qua bài viết này các bạn đã hiểu hơn về hiện tượng tự nhiên thú vị này nhé!

Đặc điểm khí hậu Việt Nam rất đa dạng, trong đó có sự góp phần của các loại gió chính. Vậy gió là gì? Nguyên nhân nào sinh ra gió? Kiến thức bên dưới sẽ cung cấp cho các bạn các thông tin đó và đặc điểm của các loại gió ở Việt Nam và rất nhiều thông tin liên quan khác.Tìm hiểu về gió

Gió là gì?

Gió là một hiện tượng thời tiết thiên nhiên mà chúng ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng ít ai có thể định nghĩa được gió là gì.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Khái niệm: Trong không gian có các luồng không khí chuyển động trên quy mô lớn người ta gọi đó là gió. Trong đó, chúng ta hiểu rằng:

– Đối với Trái Đất thì nó là các luồng không khí lớn chuyển động trong không gian

– Đối với trong không gian, thì các chất khí hoặc các hạt tích điện từ Mặt Trời vào không gian chuyển động gọi là gió mặt trời. Còn khi xảy ra sự thoát khí của các nguyên tố hóa học nhẹ chuyển từ bầu khí quyển của một hành tinh vào không gian gọi là gió hành tinh.

Nguyên nhân sinh ra gió

Về nguyên nhân hình thành gió được hiểu là do sự khác biệt trong áp suất khí quyển. Sự khác biệt trong áp suất khí quyển dẫn đến việc không khí có xu hướng di chuyển từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp. Vì vậy mà các cơn gió cũng có những tốc độ khác nhau.

Ngoài ra còn do hiệu ứng Coriolis (trừ đường xích đạo), không khí cũng bị chệch hướng sẽ sinh ra gió.

Quy mô của gió: việc tạo nên quy mô gió lớn (hoàn lưu khí quyển) dựa vào nhiệt độ khác biệt giữa xích đạo và các cực hay sự quay của các hành tinh. Do ma sát của bề mặt trái đất, gió có xu hướng đạt đến sự cân bằng và tốc độ gió chậm hơn.

Các loại gió chính

Dựa vào hướng gió thổi mà mỗi loại gió có những đặc điểm khác nhau. Từ đó chúng ta quy định các loại gió khác nhau.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
✅
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Gió mậu dịch

Gió mậu dịch là loại gió thường xuyên thổi trong các miền cận xích đạo.

Phạm vi hoạt động của gió mậu dịch là ở 30 độ về phía xích đạo

Nguyên nhân hình thành gió mậu dịch là do có sự chênh lệch lượng khí áp từ vùng khí áp cao xuống vùng khí áp thấp (từ chí tuyến xuống xích đạo).

Hướng gió:

+ Bán cầu Bắc: chủ yếu thooir theo hướng Đông Bắc – Tây Nam

+ Bán cầu Nam: thổi hướng Đông Nam – Tây Bắc

Thời gian gió hoạt động: gió mậu dịch hoạt động quanh năm. Nhưng chủ yếu là hoạt động vào mùa hè

Tính chất gió: khô và ít mưa

Gió Tây ôn đới

Đây là loại gió thổi từ các khu áp cao cận nhiệt đới về các khu áp thấp ôn đới.

Phạm vi hoạt động: ở vĩ độ trung bình giữa 35 và 36 độ vĩ.

Hướng gió chính: thổi chủ yếu theo hướng Tây sang Đông

+ Bán cầu Bắc là Tây Nam và bán cầu Nam là Tây Bắc

Thời gian hoạt động: quanh năm

+Chủ yếu mạnh nhất là vào mùa đông khi áp suất ở các cực thấp hơn.

+ Vào mùa hè gió Tây hoạt động yếu hơn do áp suất ở các cực cao hơn.

Tính chất gió Tây ôn đới: do xuất phát từ khu áp cao cận nhiệt đới nên gió Tây thường mang ẩm và lượng mưa lớn. Gió hoạt động quanh năm nên độ ẩm rất cao.

Gió đông cực

Gió đông cực là loại gió thổi từ vùng áp suất cao ở Bắc cực và cực Nam về phía áp suất thấp trong vùng gió tây.

Phạm vi làm việc: luồng không khí từ 90 độ vĩ độ bắc và nam đến 60 độ vĩ độ bắc và nam

Hướng gió chính: thổi từ đông sang tây, đông bắc và đông nam.

Giờ làm việc: làm việc quanh năm, hoạt động yếu và không thường xuyên.

Đặc điểm gió: Gió đông cực lạnh và khô.

Gió địa phương

Các luồng gió khác nhau thổi ở các vùng khác nhau. Gió thổi vào Việt Nam tùy theo địa hình mà còn có đặc điểm khác gọi là gió địa phương. Gió cục bộ bao gồm gió biển (gió đất) và gió nền.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Gió biển, gió đất, là loại gió hình thành ở các vùng ven biển. Do đó, hướng gió có thể thay đổi cả ngày lẫn đêm. Ban ngày gió từ biển thổi vào đất liền, ban đêm gió thổi từ đất liền ra biển. Tính chất của hai loại gió này cũng khác nhau.

+ Gió biển: Do gió biển thổi vào nên thường mang đến độ ẩm cao và mát mẻ, tạo cảm giác dễ chịu.

+ Gió đất: thường khô và lạnh do từ đất liền thổi ra.

– Gió Fon: một loại gió biến tính khi vượt núi hoặc cao nguyên. Bản chất của gió vẫn mang hơi ẩm, nhưng xuyên qua các ngọn núi, nó bị chặn lại và trở nên cực kỳ khô và nóng. Ở Việt Nam, gió mạnh ở Bắc Trung Bộ do thay đổi khi vượt qua dãy Trường Sơn, tạo ra các hình thái thời tiết khác nhau giữa hai bên dãy núi. Phía tây (phía đón gió) ẩm hơn, trong khi phía đông (phía đón gió) nóng và khô.

Vai trò của gió

Gió có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Góp phần điều hòa tính chất thời tiết của vùng miền, đất nước.

Đối với Việt Nam, nằm trong đới nhiệt đới nên có các loại gió chính là gió mùa và gió Tây Nam. Đây là hai loại gió chính góp phần quan trọng vào sản xuất nông nghiệp của đất nước.

Ngoài ra, gió còn có vai trò trong việc nghiên cứu ứng dụng vào thực tế như sản xuất điện gió, sử dụng tài nguyên gió cho các ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Ứng dụng gió

Như đã đề cập, gió đóng một vai trò quan trọng trong các ứng dụng thực tế.

Trong khoa học định hướng, tốc độ gió dự đoán chính xác thời tiết. Ngoài ra còn có các ứng dụng trong vận tải thủy như thiết kế thuyền buồm, thuyền phù hợp với biển.

Gió là nguồn năng lượng tự nhiên sạch, có thể sử dụng để thay thế các nguồn năng lượng khác. Năng lượng gió thân thiện với môi trường và tiết kiệm nhiều tiền đầu tư do tránh sử dụng năng lượng độc hại.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Trong giải trí, thể thao, ảnh hưởng của gió. Chẳng hạn như cầu lông, bóng bàn, lướt ván, lướt ván… cũng được nghiên cứu để có cách chơi phù hợp.

Gió sát thương

Gió ngoài những lợi ích, công dụng thì gió cũng có những tác hại khôn lường. Ở tốc độ gió lớn, các vảy lớn có thể gây nguy hiểm cho con người.

Gió có cường độ từ 7 điểm trở lên có thể cản trở chúng tôi ra ngoài trời. Với sức gió mạnh trên 9 điểm, các hiện tượng thời tiết như cuồng phong, lốc xoáy, tốc nhà, thậm chí phát sinh công trình … Do đó, cần có biện pháp dự báo chính xác thời tiết cả trên biển, hướng ra biển. . tốc độ gió. Điều này giúp tàu tìm được nơi neo đậu nhanh chóng để tránh hiểm họa về gió.

Gió là gì |Tất tần tật về gió
Gió là gì |Tất tần tật về gió

Như vậy, bài viết đã cung cấp cho bạn đọc thông tin về   gió là gì   , nguyên nhân gây ra gió và các loại gió chính. Chúng tôi hy vọng rằng sau khi đọc bài viết này, các bạn sẽ có thể hiểu và vận dụng những kiến ​​thức liên quan đến gió để áp dụng vào thực tế hoặc tránh những tình huống nguy hiểm có thể xảy ra.


Video Gió là gì |Tất tần tật về gió

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Gió là gì |Tất tần tật về gió!. 123 DocX hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. 123 DocX chúc bạn ngày vui vẻ

Related Posts