Mẫu các phương pháp thu thập thông tin năm 2021

Mẫu các phương pháp thu thập thông tin năm 2021

Sau đây là các phương pháp thu thập thông tin mà mình đã tham khảo và sưu tầm từ một số nguồn uy tín hiện nay. Mình rất mong những thông tin sẽ giúp ích được cho các bạn một cách tốt nhất có thể. Các bạn hãy đọc và tham khảo ngay nhé, chúc các bạn có một ngày làm việc thật là hiệu quả.

 

Các phương pháp thu thập thông tin trong marketing

1. Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

1.1. Phương pháp quan sát (observation)

Quan sát là phương pháp khá tiện dụng thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập. Bao gồm:

– Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp

Ví dụ: Quan sát thái độ của khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng

– Quan sát ngụy trang và quan sát công khai

Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên.

– Người quan sát hay quan sát bằng thiết bị:

Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm thương mại.

– Quan sát có cấu trúc hay không cấu trúc. Quan sát có cấu trúc là quan sát hành vi nào trước, hành vi nào sau. Ngược lại, quan sát không theo cấu trúc là không giới hạn hành vi quan sát.

Quan sát là phương pháp phù hợp trong các nghiên cứu marketing về hành vi, thái độ biểu cảm của khách hàng.

1.2. Phương pháp phỏng vấn

Các kỹ thuật trong phỏng vấn:

– Hỏi đáp theo cấu trúc: Là việc tiến hành hỏi đáp theo một thứ tự của bảng gồm những câu hỏi đã định trước. Việc phỏng vấn này thích hợp cho các cuộc nghiên cứu với số lượng người được hỏi khá lớn.

– Hỏi đáp không theo cấu trúc: Phỏng vấn viên được hỏi một cách tự nhiên như một cuộc mạn đàm, hay nói chuyện tâm tình, hoặc đi sâu vào những điều khác lạ mới phát hiện nơi người đáp, được áp dụng trong trường hợp số lượng đối tượng phỏng vấn ít, các chuyên gia, các nhà bán sỉ, lẻ có uy tín và người đáp có trình độ.

1.3. Phương pháp thử nghiệm

Gồm 2 loại:

– Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm là để quan sát và đo lường các phản ứng tâm lý. Phòng thí nghiệm thường được chia làm 2 ngăn: Ngăn 1 dành cho những người được phỏng vấn, hay thử nghiệm; Ngăn 2 dành cho những quan sát viên và các trang bị kỹ thuật, ở giữa 2 ngăn được trang bị 1 tấm kính 1 chiều.

– Thử nghiệm tại hiện trường là việc quan sát đo lường thái độ, phản ứng của khách hàng trước những sự thay đổi của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ như: thay đổi giá bán, thay đổi cách thức phục vụ, chăm sóc khách hàng…

1.4. Phương pháp điều tra thăm dò

Công cụ chủ yếu được dùng để thu thập các thông tin, sự kiện trong phương pháp này là “Bảng câu hỏi – Questions Form” do khách hàng tự trả lời thông tin.

1.5. Thảo luận nhóm (focus group)

Thảo luận nhóm là kỹ thuật thu thập dữ liệu phổ biến nhất trong nghiên cứu định tính. Các dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc thảo luận giữa một nhóm đối tượng nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của người điều khiển chương trình (moderator). Yêu cầu cần có của một moderator như sau:

– Có khả năng quan sát và kỹ năng tiếp xúc

– Hướng mục tiêu vào dàn bài thảo luận

– Có khả năng dẫn dắt và là người biết lắng nghe. Xóa bỏ các thành kiến, đồng cảm và khuyến khích các thành viên khác đưa ra ý kiến.

Thảo luận nhóm được thực hiện ở ít nhất 03 dạng sau:

– Nhóm thực thụ (Full group): Gồm từ 8 – 10 thành viên tham gia thảo luận;

– Nhóm nhỏ (Mini group): Khoảng 4 thành viên tham gia thảo luận;

– Nhóm điện thoại (Telephone group): Các thành viên tham gia thảo luận trực tuyến qua điện thoại hội nghị hoặc diễn đàn (forum) trên internet.

Những ứng dụng của thảo luận nhóm:

– Khám phá thái độ, thói quen tiêu dùng;

– Phát triển giả thuyết để kiểm nghiệm định lượng tiếp theo;

– Phát triển dữ liệu cho việc thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng;

– Thử khái niệm sản phẩm mới;

– Thử khái niệm thông tin;

– Thử bao bì, lô gô, tên của thương hiệu…

  1. Một số kỹ thuật diễn dịch trong nghiên cứu định tính

Kỹ thuật diễn dịch là kỹ thuật thu thập dữ liệu một cách gián tiếp. Trong kỹ thuật này, đối tượng nghiên cứu không nhận biết được một cách rõ ràng mục đích của câu hỏi cũng như các tình huống đưa ra, và họ được tạo cơ hội bày tỏ quan điểm một cách gián tiếp thông qua một trung gian hay diễn dịch hành vi của người khác. Một số kỹ thuật diễn dịch thường sử dụng như sau:

– Word association: Nhà nghiên cứu cứu đưa ra một chuỗi các từ, cụm từ và đề nghị các đối tượng nghiên cứu trả lời ngay sau khi họ thầy hoặc nghe chúng.

Ví dụ: Cái gì đến đầu tiên trong đầu bạn khi tôi đọc “ Coca Cola”?

– Hoàn tất câu mở rộng (Sentence completion): Nhà nghiên cứu đưa ra các câu chưa hoàn tất cho các đối tượng nghiên cứu hoàn tất câu (theo suy nghĩ của họ).

Ví dụ: Cái mà tôi ưa thích nhất khi sử dụng xà bông tắm là…; Những người đàn ông sử dụng nước hoa là những người…

– Nhân cách hóa thương hiệu (Brand personification): Nhà nghiên cứu đề nghị đối tượng nghiên cứu tượng tượng và biến những thương hiệu thành những mẫu người rồi mô tả đặc tính của nhân vật này.

Ví dụ: Trong bốn loại bia dưới đây: Heineken; Tiger; Carlsberg; Saigon. Bạn hãy tưởng tượng đó là 4 người và hãy mô tả đặc điểm tính cách của mỗi người?

– Nhận thức chủ đề (Thematic apperception test): Nhà nghiên cứu mời đối tượng nghiên cứu xem một loạt hình ảnh, tranh vẽ về chủ đề nghiên cứu và đề nghị họ cho biết (nói hoặc viết ra) những cảm nghĩ của họ về chủ đề nghiên cứu.

 

Mẫu các phương pháp thu thập thông tin trong nghiên cứu khoa học

Có 3 phương pháp thu thập số liệu:
– Thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo.
– Thu thập số liệu từ những thực nghiệm (các kết quả lâm sàng, cận lâm sàng…).
– Thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn, thảo luận nhóm…).
Yếu tố quyết định phương pháp thu thập số liệu:
– Mục tiêu nghiên cứu, các biến số: quyết định các chỉ số cần thu thập.
– Đối tượng nghiên cứu.
– Loại nghiên cứu (định tính, định lượng, phối hợp, mô tả, phân tích…).
– Nguồn thông tin thu thập: Sẵn có hay phải điều tra.
1. Phương pháp thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo
Phương pháp này dựa trên nguồn thông tin thu thập được từ những tài liệu tham khảo có sẵn (hồ sơ, bệnh án, sổ sách thống kê…) để xây dựng cơ sở luận cứ nhằm chứng minh giả thuyết.
Ví dụ, để chứng minh giả thuyết “bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các bệnh tim mạch điều trị tại bệnh viện”, người ta đã dựa vào những nghiên cứu có trước như:
– Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp điều trị tại bệnh viện.
– Tỷ lệ các bệnh tim mạch điều trị tại bệnh viện.
– Các thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, của Bộ Y tế, của Bệnh viện về bệnh tim mạch.
2. Phương pháp thu thập số liệu từ thực nghiệm 
2.1. Khái niệm 
Trong phương pháp này, số liệu được thu thập bằng cách quan sát, theo dõi, đo đạc qua thăm khám, các xét nghiệm. Để thu thập số liệu, các nhà nghiên cứu thường đặt ra các biến để quan sát và đo đạc (thu thập số liệu).
Phương pháp khoa học trong thực nghiệm gồm các bước như: lập giả thuyết, xác định biến, tiến hành thực nghiệm, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết.
2.2. Định nghĩa các loại biến trong thực nghiệm
Trong nghiên cứu thực nghiệm, có 2 loại biến thường gặp, đó là biến độc lập (independent variable) và biến phụ thuộc (dependent variable).
– Biến độc lập: là các yếu tố, điều kiện khi bị thay đổi trên đối tượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
Trong biến độc lập, thường có một mức độ đối chứng (chứa các yếu tố, điều kiện ở mức độ thông thường) hoặc các yếu tố đã được xác định mà người nghiên cứu không cần tiên đoán ảnh hưởng của chúng. Các yếu tố còn lại sẽ được so sánh với yếu tố đối chứng hoặc so sánh giữa các cặp yếu tố với nhau .
– Biến phụ thuộc: là những yếu tố bị ảnh hưởng trong suốt quá trình nghiên cứu, hay có thể nói kết quả có được của các biến này phụ thuộc vào sự thay đổi của biến độc lập.
– Ví dụ: 
Trong nghiên cứu “mối liên quan giữa độ nặng của bệnh Sốt xuất huyết Dengue với các yếu tố như ý thức, mạch, huyết áp, Hct, số lượng tiểu cầu”. Thì biến độc lập là ý thức, mạch, huyết áp, Hct, số lượng tiểu cầu. Biến phụ thuộc là độ nặng của bệnh sốt xuất huyết Dengue.
Kết quả quan sát phụ thuộc vào nguyên nhân gây ảnh hưởng. Dựa vào mối quan hệ trong giả thuyết đặt ra, người nghiên cứu dễ dàng xác định được yếu tố nào ảnh hưởng đến sự kiện quan sát.
2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu nghiên cứu 
2.3.1. Đối tượng khảo sát 
Để chọn đối tượng khảo sát trong thí nghiệm, công việc đầu tiên là phải xác định quần thể (population) mà người nghiên cứu muốn đo đạc để thu thập kết quả. Một quần thể bao gồm nhiều cá thể mang các thành phần và đặc điểm khác nhau mà ta muốn khảo sát. Đối tượng khảo sát thường được chia làm hai nhóm:
–  Nhóm khảo sát (nhóm bệnh): đối tượng được đặt ra trong giả thuyết.
–  Nhóm đối chứng: so sánh với nhóm khảo sát.
2.3.2. Khung mẫu (sample frame) 
Để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm nghiên cứu thì công việc trước tiên là thiết lập khung mẫu. Khung mẫu cần xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu (target population), cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu.
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu 
Trước khi đi vào chi tiết về phương pháp lấy mẫu, cần hiểu các định nghĩa có liên quan đến phương pháp, trình bày trong bảng sau.
Bảng. Các định nghĩa có liên quan đến phương pháp lấy mẫu

Quần thể (population) Một tập hợp các đối tượng khảo sát (người, cá thể, nhân vật, sinh vật,…) và chứa các đặc tính cần nghiên cứu hay khảo sát.
Quần thể mục tiêu 
(target population)
Mang đặc tính nào đó và được đánh giá qua mẫu; hoặc mang các đặc tính cần nghiên cứu và đại diện cho toàn quần thể. Ví dụ, khi nghiên cứu về việc sử dụng các thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, thì quần thể mục tiêu là người bị đái tháo đường.
Mẫu (sample) Một phần hoặc tập hợp nhỏ cá thể của quần thể mục tiêu được chọn đại diện cho quần thể để khảo sát nghiên cứu.
Mẫu không xác suất (non-probability sample) Phương pháp trong đó việc chọn mẫu không có xác suất đồng đều hay các cá thể trong quần thể không có cơ hội được chọn như nhau.
Mẫu xác suất 
(probability sample)
Phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi cá thể có một xác suất đặc trưng của mẫu và thường bằng nhau. Hầu hết việc lấy mẫu xác suất sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên để tạo ra mỗi cá thể trong quần thể có cơ hội được chọn như nhau.

Mục đích của tất cả các phương pháp lấy mẫu là đạt được mẫu đại diện cho cả quần thể nghiên cứu. Khi chọn phương pháp lấy mẫu thì cần hiểu rõ các đặc tính của quần thể nghiên cứu để xác định cỡ mẫu quan sát đại diện và để đánh giá tương đối chính xác quần thể.
Trong nghiên cứu, không thể quan sát hết toàn bộ các cá thể trong quần thể, mà chỉ chọn một số lượng đủ các cá thể đại diện hay còn gọi là mẫu thí nghiệm. Phương pháp chọn mẫu thí nghiệm rất quan trọng, bởi vì có liên quan tới sự biến động hay độ đồng đều của mẫu. Có hai phương pháp chọn mẫu: (1) Chọn mẫu không xác suất (không chú ý tới độ đồng đều) và (2) chọn mẫu xác suất (đề cập tới độ đồng đều).
* Chọn mẫu không có xác suất 
Phương pháp chọn mẫu không xác suất là cách lấy mẫu trong đó các cá thể của mẫu được chọn không ngẫu nhiên hay không có xác suất lựa chọn giống nhau.

Xem thêm:  Mẫu giáo án dạy học theo chủ đề môn ngữ văn 8 năm 2021
Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin cậy thấp. Mức độ chính xác của cách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghiệm của người nghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng.
* Chọn mẫu xác suất

Cơ bản của việc chọn mẫu xác suất là cách lấy mẫu trong đó việc chọn các cá thể của mẫu sao cho mỗi cá thể có cơ hội lựa chọn như nhau, nếu như có một số cá thể có cơ hội xuất hiện nhiều hơn thì sự lựa chọn không phải là ngẫu nhiên. Để tối ưu hóa mức độ chính xác, người nghiên cứu thường sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên.

* Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 
– Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random)
– Chọn mẫu phân lớp (stratified samples)
– Chọn mẫu hệ thống (systematic samples)
2.4.4. Xác định cỡ mẫu 
Mục đích của việc xác định cỡ mẫu là để giảm đi công lao động và chi phí làm thí nghiệm và điều quan trọng là chọn cỡ mẫu như thế nào mà không làm mất đi các đặc tính của mẫu và độ tin cậy của số liệu đại diện cho quần thể. Có thể dùng công thức tính cỡ mẫu tùy vào phương pháp nghiên cứu.
3. Phương pháp phi thực nghiệm 
3.1. Khái niệm 
Phương pháp phi thực nghiệm là phương pháp thu thập số liệu dựa trên sự quan sát các sự kiện, sự vật đã hay đang tồn tại, từ đó tìm ra qui luật của chúng. Phương pháp này gồm các loại nghiên cứu kinh tế và xã hội, nghiên cứu nhân chủng học, …
Loại số liệu thu thập trong phương pháp phi thực nghiệm gồm số liệu được thu thập từ các câu hỏi có cấu trúc kín hoặc số liệu được thu thập từ các câu hỏi mở theo các phương pháp thu thập số liệu.
3.2. Kỹ thuật thu thập số liệu 
Nhiều đề tài, chương trình, dự án nghiên cứu trong các lãnh vực sản xuất, thương mại, kinh doanh có liên quan tới nhiều nhóm người như chủ kinh doanh, đại lý, nhà khoa học, người sản xuất, người tiêu thụ, hay tiềm năng, thị trường, kinh nghiệm, kiến thức hoặc quan điểm. Việc thu thập các thông tin, số liệu trong mối quan hệ trên cần thiết phải chọn phương pháp thu thập số liệu cho phù hợp. Trong đó, phương pháp phỏng vấn là một cách được sử dụng chủ yếu để tìm hiểu những lý do và động cơ về quan điểm, thái độ, sở thích hoặc hành vi của con người. Người phỏng vấn có thể thực hiện các cuộc phỏng vấn là cá nhân hoặc nhóm người ở nơi làm việc, ở nhà, ngoài ruộng đồng, ngoài đường, siêu thị hay ở một nơi nào đó đã thỏa thuận,… Trong phương pháp phỏng vấn, trước khi bắt đầu đặt câu hỏi cho người trả lời thì người nghiên cứu nên xác định phạm vi câu hỏi.
3.2.1. Phương pháp phỏng vấn – trả lời 
Phỏng vấn là một loạt các câu hỏi mà người nghiên cứu đưa ra để phỏng vấn người trả lời. Phỏng vấn có thể được tổ chức có cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu hỏi các câu hỏi được xác định rõ ràng; và phỏng vấn không theo cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu cho phép một số các câu hỏi của họ được trả lời (hay dẫn dắt) theo ý muốn của người trả lời.
Có các dạng phiếu hỏi cho phỏng vấn sau:
– Phiếu hỏi phỏng vấn qua bưu điện.
– Phiếu hỏi phỏng vấn trực tiếp.
– Phiếu hỏi phỏng vấn sâu.
– Bệnh án mẫu, phiếu nghiên cứu…
Số liệu được thu thập bằng cách người điều tra hỏi và ghi chép trực tiếp vào phiếu hỏi. Có thể kết hợp giữa hỏi, quan sát, thăm khám, xét nghiệm để lấy số liệu.
3.2.2. Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi – trả lời
Bảng câu hỏi là một loạt các câu hỏi được viết hay thiết kế bởi người nghiên cứu để gởi cho người trả lời phỏng vấn trả lời và gởi lại bảng trả lời câu hỏi qua thư bưu điện cho người nghiên cứu.
Sử dụng bảng câu hỏi là phương pháp phổ biến để thu thập các thông tin từ người trả lời các câu hỏi đơn giản.
* Các yếu tố cần cân nhắc khi thiết kế câu hỏi:
– Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu.
– Các giả thuyết nghiên cứu.
– Các chỉ số, biến số, thông tin cần thu thập.
– Kế hoạch phân tích số liệu.
– Các nguồn lực hiện có.
– Đặc điểm quần thể nghiên cứu.
* Các loại câu hỏi:
– Câu hỏi mởlà dạng câu hỏi có số liệu thu thập không có cấu trúc hay số liệu khó được mã hóa. Câu hỏi cho phép câu trả lời mở và có các diễn tả, suy nghĩ khác nhau hơn là ép hoặc định hướng cho người trả lời.
Ví dụ: Theo anh/chị, các thói quen nào có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch? ………………………………………………………………………………..
– Câu hỏi đóng: là dạng câu hỏi có số liệu thu thập có thể tương đối dễ dàng phân tích, mã hóa nhưng nó giới hạn sự trả lời.
Ví dụ: Gia đình anh/chị thường dùng loại nước nào sau đây để ăn uống:
1.Nước máy                   2. Nước giếng                  3. Nước mưa
4. Nước sông/suối           5. Nước ao hồ
– Câu hỏi mở cuối: là dạng kết hợp 2 loại trên.
Ví dụ: Theo anh/chị yếu tố nào sau đây làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch:

  1. Hút thuốc lá.
  2. Uống cà phê.
  3. Béo phì.
  4. Khác (ghi rõ)……………………………

* Cấu trúc chung của một bộ câu hỏi
Thường gồm 2 phần chính:
– Phần thông tin chung: Tên, tuổi, giới, địa chỉ, trình đọ văn hóa, nghề nghiệp….
– Phần thông tin đặc thù cho nghiên cứu: Tùy mục tiêu nghiên cứu.
* Các bước cần làm khi thiết kế bộ câu hỏi
– Chọn loại câu hỏi sẽ sử dụng: Bộ câu hỏi hay phiếu hỏi.
– Liệt kê danh sách các biến: tùy theo câu hỏi nghiên cứu.
– Lựa chon cách thu thập số liệu cho từng biến: câu hỏi, khám, xét nghiệm.
– Viết nháp bộ câu hỏi.
– Tham khảo ý kiến chuyên gia, sửa lại.
– Thu thập thông tin thử từ bộ câu hỏi.
– Sửa và viết lại cho phù hợp.
– Mã hóa thông tin từ câu hỏi.
– In ấn, sử dụng.

* Tiêu chuẩn một bộ câu hỏi tốt
– Rõ ràng và có tính đặc thù.
– Đơn giản, dễ hiểu, dễ mã hóa.
– Dễ trả lời.
* Một số nguyên tắc mã hóa các câu hỏi
Mã hóa các câu hỏi là bước rất quan trọng để xử lý số liệu trên các phần mềm phân tích thống kê.
– Gán số cho từng mục của câu hỏi: thường dùng cho các biến định tính.
Ví dụ: Gia đình anh/chị thường dùng loại nước nào sau đây để ăn uống:

  1. Nước máy                   2. Nước giếng                  3. Nước mưa
  1. Nước sông/suối           5. Nước ao hồ

Ví dụ: Giới tính:              1. Nam                   2. Nữ
Với các biến định lượng (biến liên tục): không nên mã hóa số liệu. Khi cần chuyển đổi từ biến định lượng sang biến định tính (phân nhóm số liệu) có thể thực hiện được trên các phần mềm thông kê.
– Cho điểm lượng hóa từ các biến định tính:
Ví dụ: Anh chi có đồng ý việc cấm hút thuốc lá trong khuôn viên bệnh viện không:
1. Rất đồng ý                             2. Đồng ý
3. Không đồng ý                       4. Rất không đồng ý
4. Kết luận
Thu thập số liệu nghiên cứu là một bước rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Để có được số liệu chính xác, đầy đủ và đáp ứng yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu phải lựa chọn phương pháp, kỹ thuật và công cụ thu thập số liêu sao cho phù hợp với câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các nguồn lực có được để thực hiện nghiên cứu.

 

Tổng các phương pháp thu thập thông tin điều tra dân số

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, để tận dụng những lợi thế về công nghệ thông tin đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, đảm bảo thời gian và sự minh bạch, hiệu quả về chi phí… của thông tin thống kê, các hình thức thu thập thông tin điều tra đã được cải tiến theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông. Các phương pháp thu thập thông tin có ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông bao gồm: Phỏng vấn trực tiếp, ghi chép bằng thiết bị điện tử thông minh (Computer Assisted Personal Interviewing, viết tắt là CAPI), phỏng vấn bằng điện thoại ghi chép bằng thiết bị điện tử thông minh (Computer Assisted Telephone Interviewing, viết tắt là CATI); tự cung cấp thông tin bằng thiết bị điện tử thông minh (Computer Assisted Self- Interviewing, viết tắt là CASI), phỏng vấn bằng tai nghe và tự cung cấp thông tin bằng thiết bị điện tử thông minh (Audio Casi, viết tắt là ACASI).

Tổng điều  tra dân số và nhà ở năm 2019 sử dụng đồng thời 03 hình thức thu thập   thông tin: Phiếu điện tử (CAPI); Phiếu trực tuyến (CASI dựa trên Internet hay còn gọi là   điều tra Webform hoặc Online) và Phiếu giấy (Paper and Pencil Interviewing, viết tắt là   PAPI). Hai hình thức  đầu được thực hiện dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và Internet, trong đó CAPI là hình thức thu thập thông tin chính của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Trong khi CAPI và PAPI là các hình thức thức thu thập thông tin của phương pháp điều tra trực tiếp thì Webform là hình thức thức thu thập thông tin của phương pháp điều tra gián tiếp.

PAPI là hình thức thu thập thông tin truyền thống, theo đó điều tra viên thống kê (viết tắt là ĐTV) đến gặp trực tiếp hộ dân cư để hỏi và ghi chép thông tin vào phiếu giấy in sẵn.

CAPI là hình thức thu thập thông tin ứng dụng công nghệ thông tin, theo đó phiếu hỏi điều tra được thiết kế sẵn để cài đặt trong máy tính bảng, điện thoại thông minh hoặc máy tính xách tay phục vụ cho việc ghi chép thông tin ngay trong quá trình ĐTV thực hiện phỏng vấn điều tra.

WEBFORM là hình thức thu thập thông tin ứng dụng công nghệ thông tin của phương pháp điều tra gián tiếp. Các hộ đăng ký thực hiện Webform được cấp Tài khoản và Mật khẩu để đăng nhập vào hệ thống thông tin của Tổng điều tra và tự cung cấp thông tin của hộ và các nhân khẩu thực tế thường trú của hộ theo phiếu hỏi.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong thu thập thông tin điều tra/ tổng điều tra giúp nâng cao chất lượng thông tin thông qua quá trình kiểm tra tự động lô gíc của phiếu điều tra, giám sát quá trình ĐTV đến hộ dân cư để phỏng vấn và minh bạch thông tin trong quá trình duyệt số liệu; Rút ngắn quá trình xử lý thông tin, công bố sớm kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Dưới đây là bản tổng hợp, đã đánh giá ưu, nhược điểm của 03 hình thức thu thập thông tin Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019:

(1) Đánh giá các ưu, nhược điểm của 03 hình thức thu thập thông tin trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

STT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ      PAPI       CAPI WEBFORM
11 Tỷ lệ trả lời và kiểm soát chất lượng thông tin Tỷ lệ trả lời cao; kiểm soát được chất lượng thông tin được cung cấp Tỷ lệ trả lời cao; kiểm soát được chất lượng thông tin được cung cấp Tỷ lệ trả lời thấp; khó kiểm soát được chất lượng thông tin được cung cấp
22 Hỗ trợ trực tiếp của ĐTV để hoàn thành phiếu hỏi Có hỗ trợ trực tiếp Có hỗ trợ trực tiếp Không hỗ trợ trực tiếp
33 Hỗ trợ kiểm tra thông tin tự động ngay trong quá trình điều tra (kiểm tra tự động nhằm nâng cao chất lượng thông tin và giảm thời gian thực hiện) Không.Kiểm tra bước nhảy cho từng câu hỏi khi nhập tin Có.Kiểm tra bước nhảy và logic toàn phiếu ngay khi phỏng vấn Có. Kiểm tra bước nhảy và logic toàn phiếu ngay khi tự cung cấp thông tin
44 Các hỗ trợ khác Tự động chuyển câu hỏi; Lấy tọa độ GPS; tra cứu tài liệu; thống kê số hộ hoàn thành Tự động chuyển câu hỏi; Hướng dẫn thực hiện tự cung cấp thông tin
55 Kiểm soát việc đến hộ của điều tra viên Kiểm soát qua giám sát trực tiếp Kiểm soát qua giám sát trực tiếp và giám tiếp
66 Thời gian phỏng vấn so với PAPI Nhanh hơn Nhanh hơn
77 Nhập tin số liệu Phải nhập tin Không phải nhập tin Không phải nhập tin
88 Yêu cầu về tính chặt chẽ của phiếu hỏi và chương trình phần mềm so với PAPI Cao hơn Cao hơn
99 Yêu cầu xây dựng mạng lưới trước khi điều tra Không yêu cầu Có yêu cầu Có yêu cầu
110 Yêu cầu về hạ tầng công nghệ thông tin so với PAPI   Cao hơn Cao hơn
111 Tập huấn cho lực lượng tham gia Tập huấn nghiệp vụ Tập huấn nghiệp vụ và công nghệ thông tin Không phải tập huấn
112 Thuận tiện cho lực lượng tham gia điều tra so với PAPI Thuận tiện hơn Thuận tiện hơn
113 Nâng cao tính chuyên nghiệp của công tác thống kê so với PAPI
114 Chi phí liên quan đến gặp trực tiếp đối tượng điều tra Cao Cao Thấp
515 In, vận chuyển và lưu trữ tài liệu Phải thực hiện Không phải in và vận chuyển phiếu hỏi Không phải in và vận chuyển phiếu hỏi
16 Thời gian công bố kết quả so với PAPI Nhanh hơn Nhanh hơn
Xem thêm:  Tải microsoft project 2010 - Hướng dẫn tải và cài đặt chi tiết nhất

(2) Trong TĐT 2019, CAPI là hình thức thu thập thông tin chủ yếu. Khi áp dụng CAPI trong quá trình thu thập thông tin Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cần lưu ý những điểm sau:- Huy động điều tra viên có đủ khả năng và có thiết bị phù hợp để thực hiện Tổng điều tra: Chương trình CAPI đã được xây dựng để cài đặt trên các thiết bị di động sử dụng hệ điều hành Android hoặc IOS. Đối với thiết bị di động sử dụng hệ điều hành Android, yêu cầu thiết bị di động sử dụng hệ điều hành Android 5.0 trở lên; đối với thiết bị di động sử dụng hệ điều hành IOS, yêu cầu điện thoại thông minh từ Iphone 5 trở lên và tất cả các dòng Ipad sử dụng hệ điều hành IOS 8.0. Để thuận lợi cho quá trình quản lý, kiểm tra và hoàn thiện các phiếu đã thu thập thông tin, ĐTV cần sử dụng cố định một loại thiết bị trong suốt quá trình thu thập thông tin; ĐTV lưu giữ phiếu hỏi và chương trình trên thiết bị di động đến ngày 15/5/2019.

– Chương trình CAPI được xây dựng nhằm thu thập thông tin và đồng bộ dữ liệu về máy chủ của Tổng điều tra ngay trong quá trình phỏng vấn; việc kiểm tra và hoàn thiện phiếu được thực hiện song song với quá trình phỏng vấn khi thiết bị của ĐTV được kết nối với mạng Internet. Tuy nhiên, trong trường hợp thiết bị của ĐTV không được kết nối với mạng Internet ngay trong quá trình phỏng vấn (do không có mạng Internet tại các địa bàn điều tra) thì việc phỏng vấn và ghi chép thông tin vào chương trình CAPI vẫn được tiến hành như bình thường và dữ liệu vẫn được lưu tại thiết bị của ĐTV. Trong trường hợp này, việc đồng bộ dữ liệu về máy chủ cần được thực hiện ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn, khi thiết bị của ĐTV được kết nối với mạng Internet.

– Trong quá trình thu thập thông tin cần đảm bảo thiết bị di động luôn được sạc pin đầy đủ phục vụ cho việc ghi chép thông tin; được kết nối mạng Internet phục vụ việc tải mạng lưới trước khi phỏng vấn thu thập thông tin và sau khi hoàn thành phiếu để đồng bộ dữ liệu.

– Theo quy định của Luật Thống kê, tất cả các thông tin điều tra được thu thập và lưu trữ trên thiết bị của ĐTV phải được bảo mật tuyệt đối, chỉ được gửi tới Ban Chỉ đạo Trung ương thông qua việc đồng bộ dữ liệu phục vụ cho công tác tổng hợp, không được gửi cho bất kỳ cá nhân và tổ chức nào. Do vậy, ĐTV cần bảo quản tốt thiết bị có chương trình CAPI của Tổng điều tra, tránh làm mất, làm hỏng; không được sao chép dữ liệu cho bất kỳ một người nào khác./.

Các phương pháp thu thập thông tin dữ liệu

1) Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát (Observational Method) là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp về khách hàng, về các đối thủ cạnh tranh bằng cách sử dụng người hoặc máy móc để ghi lại các hiện tượng, hành vi của khách hàng, của nhân viên công ty, và của các đối thủ cạnh tranh. Mục đích của quan sát là ghi lại hành vi, lời nói của nhân viên, của khách hàng khi họ ở các nơi giao dịch với khách hàng. Sau khi quan sát thấy một hành vi nào đó của khách hàng, ta có thể phỏng vấn họ để biết thêm thông tin về hành vi đó. Có thể thực hiện các quan sát bằng mắt, bằng máy ghi âm, ghi hình…Ví dụ như quan sát hành vi của khách hàng khi họ bước vào bưu cục, cửa hàng, điểm phục vụ; khi họ xem một quảng cáo; nghe họ bình luận về chất lượng hàng hoá, dịch vụ, thái độ phục vụ của doanh nghiệp, của các đối thủ cạnh tranh. Tại các siêu thị, các máy quét laze giúp cho việc thống kê các loại hàng hoá được tiêu thụ trong ngày nhanh chóng. Người nghiên cứu có thể đóng vai một khách hàng bí mật để quan sát hành vi, phong cách cuả người bán hàng của công ty hoặc của các đối thủ cạnh tranh.

Phương pháp quan sát cho ta kết quả khách quan. Tuy nhiên, khó khăn đối với phương pháp này là không thấy được mối liên hệ giữa hiện tượng và bản chất của nó. Muốn vậy người ta phải tiến hành quan sát nhiều lần để tìm ra quy luật.

Khi quan sát cần giữ bí mật để đảm bảo tính khách quan. Nếu khách hàng biết chúng ta quan sát thì họ sẽ không ứng xử hành vi một cách khách quan.

2) Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn (Interview Method) là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn các đối tượng được chọn. Đây là phương pháp duy nhất để biết được ý kiến, dự định của khách hàng. Tuy nhiên, phương pháp phỏng vấn cũng có các nhược điểm nhất định. Đó là chi phí cao, tốn kém thời gian và nhiều khi người được phỏng vấn không trả lời hoặc trả lời không trung thực (đặc biệt đối với người châu Á).

Phỏng vấn có thể được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp cá nhân, phỏng vấn tại nơi công cộng, phỏng vấn nhóm tập trung, phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn qua thư. Mỗi phương pháp này cũng có các ưu nhược điểm riêng.

  1. a) Phỏng vấn trực tiếp cá nhân

Trong phương pháp phỏng vấn cá nhân (Personal Interviews), người phỏng vấn và người được phỏng vấn gặp gỡ trực tiếp. Phương pháp này có tính linh hoạt cao hơn so với các loại phỏng vấn kia, vì người phỏng vấn có thể thay đổi cách hỏi hoặc giải thích thêm nếu người được hỏi chưa hiểu rõ câu hỏi. Phỏng vấn trực tiếp có khả năng thu được nhiều dữ liệu hơn ngoài bảng câu hỏi mà khách hàng trả lời, bởi vì người phỏng vấn có thể quan sát để thu được thêm dữ liệu về người được phỏng vấn qua ngôn ngữ không lời (nhà cửa, thái độ, hành vi, trang phục¼). Kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục sẽ quyết định đến chất lượng và số lượng thông tin thu được.

  1. b) Phỏng vấn tại nơi công cộng

Phỏng vấn tại nhà người được phỏng vấn dẫn đến khó khăn gặp mặt họ, đồng thời chi phí cao. Do vậy, thông thường người ta tiến hành phỏng vấn gặp ngẫu nhiên tại các trung tâm tập trung đông người như các trung tâm thương mại, tại các quầy giao dịch.

Phỏng vấn tại nơi công cộng (Public Interviews) yêu cầu phải thực hiện nhanh để tránh làm phiền khách hàng. Do vậy nội dung phỏng vấn phải ngắn gọn. Người phỏng vấn cũng phải có kỹ năng tiếp cận và thuyết phục khách hàng cộng tác.

Phỏng vấn tại nơi công cộng có thể tiến hành nhanh, chi phí rẻ, dễ kiểm tra. Nhược điểm của phương pháp này là khó khăn trong việc tiếp cận, thuyết phục khách hàng trong khi họ đang đi lại hoặc làm việc khách. Tính ngẫu nhiên của mẫu cũng có thể không được đảm bảo.

  1. c) Phỏng vấn nhóm tập trung

Trong phương pháp phỏng vấn nhóm tập trung (Focus-group Interviews), người phỏng vấn sẽ gặp gỡ với một nhóm khách hàng từ 4 dến 10 người trong một bầu không khí gần gũi, thân thiện. Các câu hỏi mở được sử dụng để khuyến khích khách hàng tự do thảo luận vấn đề được đặt ra. Người phỏng vấn có thể đặt các câu hỏi liên tiếp để hiểu sâu hơn thái độ của khách hàng về một vấn đề. Mục đích của phương pháp phỏng vấn nhóm tập trung là nhằm đưa ra các khái niệm, giả thiết mà sau đó sẽ được kiểm tra qua các thăm dò trên phạm vi lớn hơn. Phương pháp này cũng được dùng để tìm hiểu sâu hơn về hành vi của người tiêu dùng.

Nhìn chung, phương pháp phỏng vấn trực tiếp có nhược điểm là chi phí cao, thời gian kéo dài, người phỏng vấn phải có kinh nghiệm dẫn dắt, gợi mở các vấn đề khác nhau trong quá trình thảo luận.

  1. d) Phỏng vấn qua điện thoại

Phương pháp phỏng vấn qua điện thoại (Telephone Interviews) tiếp cận với khách hàng bằng phương tiện điện thoại. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và máy tính, khả năng của phương pháp này được mở rộng. Nhờ sự hỗ trợ này, việc quay số điện thoại có thể được thực hiện ngẫu nhiên, các câu trả lời có thể được lưu trữ với dung lượng lớn. Ưu điểm của phỏng vấn qua điện thoại là khả năng tiếp cận nhanh không phụ thuộc vào khoảng cách, chi phí thấp, thời gian ngắn, dễ quản lý. Nhược điểm của phương pháp này là không phù hợp với các phỏng vấn có nội dung dài, không quan sát được hành vi của khách hàng. Ngoài ra, các số điện thoại được in trong danh bạ có thể đã lạc hậu vào thời điểm phỏng vấn; một số hộ gia đình không có máy điện thoại hoặc có điện thoại nhưng không đăng ký vào danh bạ.

  1. e) Phỏng vấn qua thư

Phỏng vấn qua thư (Mailing Interviews) được thực hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi (Questionnaire) cho khách hàng qua bưu điện. Người nhận chỉ cần đánh dấu vào các câu hỏi trong bảng và cũng sẽ gửi lại qua bưu điện. Phương pháp phỏng vấn này có các ưu điểm như sau. Thứ nhất, do không tiếp xúc mặt đối mặt với người phỏng vấn nên người trả lời (vô danh) không bị lúng túng, kết quả phỏng vấn không bị thiên lệch. Thứ hai, chi phí phỏng vấn thấp hơn nhiều so với phỏng vấn trực tiếp, do vậy phù hợp cho các phỏng vấn trên phạm vi toàn quốc. Nhược điểm của phương pháp này là thời gian kéo dài (từ 3 đến 4 tuần). Cũng có thể thực hiện phỏng vấn qua e-mail.

Do mỗi phương pháp thu thập dữ liệu có các ưu điểm và nhược điểm riêng. Do vậy, người ta thường kết hợp các phương pháp thu thập dữ liệu khác nhau.

3) Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm (Experimental Method) nhằm tạo ra điều kiện nhân tạo để xác định kết quả khi ta thay đổi một biến số nào đó trong khi giữ nguyên các biến số khác, tức là khám phá ra mối liên hệ nhân quả của hai biến số nào đó hoặc kiểm chứng các giả thiết đặt ra. Chẳng hạn, khi ta thay đổi giá (tăng, giảm) và muốn biết ảnh hưởng của quyết định đó đến sức mua của khách hàng. Hoặc khi ta muốn thử nghiệm một sản phẩm mới, một cách đóng gói, bao bì mới, một quảng cáo mới để xác định phản ứng của khách hàng. Phương pháp thực nghiệm phù hợp với loại nghiên cứu nhân quả, tức là nghiên cứu tác động của một biến số nào đó đến một biến số khác, ví dụ sự thay đổi về giá, hay sự thay đổi về bao bì ảnh hưởng như thế nào đến sức mua của khách hàng. Sau đây là tóm tắt một số mục tiêu của phương pháp thực nghiệm

  • Khám phá mối liên hệ nhân quả giữa 2 đại lượng
  • Kiểm chứng một giả thiết nào đó
  • Thử nghiệm sản phẩm mới
  • Thử nghiệm các chiến lược Marketing mới (bao bì mới, giá mới, quảng cáo mới..).

Kết quả thực nghiệm được quan sát, hay người tham gia được phỏng vấn để người nghiên cứu biết được phản ứng của họ, và dữ liệu được ghi chép cẩn thận để phân tích.

Nhược điểm của phương pháp thực nghiệm là chi phí cao, đồng thời khó kiểm soát ảnh hưởng của các nhân tố ngoại lai.

 

Xem thêm:  Mẫu giáo án phụ đạo ngữ văn 8 năm 2021

Nhóm các phương pháp thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp

1. Các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa có sẵn, được thu thập lần đầu, do chính người nghiên cứu thu thập. Trong thực tế, khi dữ liệu thứ cấp không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, hoặc không tìm được dữ liệu thứ cấp phù hợp thì các nhà nghiên cứu sẽ phải tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp.

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp liên quan đòi hỏi công việc tìm kiếm, gồm hai giai đoạn gắn kết nhau:

Bước 1: Xác định loại dữ liệu bạn cần có hiện diện ở dạng dữ liệu thứ cấp không.

Bước 2: Định vị chính xác dữ liệu mà bạn cần.

Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

1.1 Khả năng tiếp cận dữ liệu thứ cấp

Có nhiều manh mối để biết dữ liệu thứ cấp bạn cần có tìm được hay không:

  • Các tờ báo uy tín của một nước là nguồn hữu ích, chúng thường báo cáo tóm tắt các kết quả của các báo cáo gần đây của Chính phủ.
  • Các sách giáo khoa về các chủ đề cụ thể có thể cung cấp chỉ dẫn rõ ràng về những nguồn dữ liệu thứ cấp hiện có trong lĩnh vực bạn nghiên cứu, ví dụ ở các doanh nghiệp nhỏ.
  • Tài liệu cấp ba như các bảng chỉ mục và catalogues cũng có thể hỗ trợ bạn định vị dữ liệu thứ cấp. Có thể tiếp cận và tìm kiếm catalogues đầy đủ các dữ liệu này trên Internet.

1.2. Tìm kiếm và thu thập dữ liệu thứ cấp

Một khi bạn đã chắc chắn có dữ liệu thứ cấp có khả năng hiện diện, bạn cần tìm ra vị trí chính xác của chúng.

  • Đối với những dứ liệu thứ cấp do chính phủ phát hành thì việc tương đối dễ dàng.
  • Định vị các dữ liệu thứ cấp đã phát hành lưu trữ trong các thư viện hay các dữ liệu thứ cấp trong các cơ quan lưu trữ thì tương đối đơn giản.
  • Các dữ liệu do các tổ chức lưu trữ thì khó định vị hơn. Đối với những dữ liệu trong nội bộ tổ chức, người quản lí thông tin hay dữ liệu trong bộ phận thích hợp có lẽ biết chính xác dữ liệu thứ cấp được lưu giữ.

Dữ liệu trên Internet có thể định vị nhờ việc sử dụng các cổng thông tin và những công cụ tìm kiếm (search engine), là những công cụ giúp tìm ra tất cả những địa điểm có thể phù hợp với các từ khóa liên quan đến câu hỏi hoặc mục đích nghiên cứu của bạn.

Khi đã định vị tập hợp dữ liệu thứ cấp bạn cần phải chắc chắn nó sẽ đáp ứng nhu cầu của bạn. Đối với các dữ liệu văn bản hay các dữ liệu ở dạng sách báo cách dễ nhất là lấy và đánh giá một mẫu dữ liệu và bảng mô tả chi tiết về cách thức dữ liệu này được thu thập. Đối với dữ liệu khảo sát tồn tại ở dạng có thể đọc được trên máy tính thường phải tốn chi phí.

Nếu bạn đang gặp vấn đề khó khăn trong quá trình làm bài luận văn cũng như thu thấp và xử lý dữ liệu, đừng ngần ngại liên hệ với dịch vụ tư vấn, hỗ trợ viết luận văn thuê của Luận Văn Việt. Chúng tôi cam kết giúp bạn hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất.

  1. Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

2.1. Phương pháp quan sát (observation)

Nội dung phương pháp:

Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp thu thập dữ liệu này thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập. Có thể chia ra:

  • Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp:

Quan sát trực tiếp là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra.

Quan sát gián tiếp là tiến hành quan sát kết quả hay tác động của hành vi, chứ không trực tiếp quan sát hành vi.

  • Quan sát ngụy trang và quan sát công khai:

Quan sát ngụy trang có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan sát.

Công cụ quan sát: con người, các thiết bị…

Quan sát do con người nghĩa là dùng giác quan con người để quan sát đối tượng nghiên cứu. Quan sát bằng thiết bị nghĩa là dùng thiết bị để quan sát đối tượng nghiên cứu. Chẳng hạn dùng máy đếm số người ra vào các cửa hàng, dùng máy đọc quét để ghi lại hành vi người tiêu dùng khi mua sản phẩm tại các cửa hàng bán lẻ; hay dùng máy đo có đếm số để ghi lại các hành vi của người xem ti vi…

Ưu – nhược điểm:

Thu được chính xác hình ảnh về hành vi người tiêu dùng vì họ không hề biết rằng mình đang bị quan sát. Thu được thông tin chính xác về hành vi người tiêu dùng trong khi họ không thể nào nhớ nỗi hành vi của họ một cách chính xác.

Tuy nhiên kết quả quan sát được không có tính đại diện cho số đông. Không thu thập được những vấn đề đứng sau hành vi được quan sát như động cơ, thái độ…Để lý giải cho các hành vi quan sát được, người nghiên cứu thường phải suy diễn chủ quan.

2.2. Phương pháp phỏng vấn bằng thư (mail interview)

Nội dung phương pháp:

Phương pháp thu thập dữ liệu này được thực hiện thông qua việc gửi bảng câu hỏi đã soạn sẵn, kèm phong bì đã dán tem đến người muốn điều tra qua đường bưu điện. Nếu mọi việc trôi chảy, đối tượng điều tra sẽ trả lời và gởi lại bảng câu hỏi cho cơ quan điều tra cũng qua đường bưu điện.

Áp dụng khi người mà ta cần hỏi rất khó đối mặt, do họ ở quá xa, hay họ sống quá phân tán, hay họ sống ở khu dành riêng rất khó vào, hay họ thuộc giới kinh doanh muốn gặp phải qua bảo vệ thư ký…; khi vấn đề cần điều tra thuộc loại khó nói, riêng tư (chẳng hạn: kế hoạch hoá gia đình, thu nhập, chi tiêu,…);

Ưu – nhược điểm:

Ưu điểm của phương pháp thu thập dữ liệu này là có thể điều tra với số lượng lớn đơn vị, có thể đề cập đến nhiều vấn đề riêng tư tế nhị, có thể dùng hình ảnh minh hoạ kèm với bảng câu hỏi.

Thuận lợi cho người trả lời vì họ có thời gian để suy nghĩ kỹ câu trả lời, họ có thể trả lời vào lúc rảnh rỗi.  Chi phí điều tra thấp; chi phí tăng thêm thấp, vì chỉ tốn thêm tiền gởi thư, chứ không tốn kém tiền thù lao cho phỏng vấn viên.

Tuy nhiên tỷ lệ trả lời thường thấp, mất nhiều thời gian chờ đợi thư đi và thư hồi âm, không kiểm soát được người trả lời, người trả lời thư có thể không đúng đối tượng mà ta nhắm tới…

2.3. Phương pháp phỏng vấn bằng điện thoại (telephone interview)

Nội dung phương pháp:

Khi tiến hành phương pháp thu thập dữ liệu này, nhân viên điều tra sẽ tiến hành việc phỏng vấn đối tượng được điều tra bằng điện thoại theo một bảng câu hỏi được soạn sẵn.

Áp dụng khi mẫu nghiên cứu gồm nhiều đối tượng là cơ quan xí nghiệp, hay những người có thu nhập cao (vì họ đều có điện thoại); hoặc đối tượng nghiên cứu phân bố phân tán trên nhiều địa bàn thì phỏng vấn bằng điện thoại có chi phí thấp hơn phỏng vấn bằng thư. Nên sử dụng kết hợp phỏng vấn bằng điện thoại với phương pháp thu thập dữ liệu khác để tăng thêm hiệu quả của phương pháp.

Ưu – nhược điểm:

Phương pháp thu thập dữ liệu này dễ thiết lập quan hệ với đối tượng (vì nghe điện thoại reo, đối tượng có sự thôi thúc phải trả lời). Có thể kiểm soát được vấn viên do đó nâng cao được chất lượng phỏng vấn.

Dễ chọn mẫu (vì công ty xí nghiệp nào cũng có điện thoại, nên dựa vào niên giám điện thoại sẽ dễ dàng chọn mẫu). Tỷ lệ trả lời cao (có thể lên đến 80%). Nhanh và tiết kiệm chi phí. Có thể cải tiến bảng câu hỏi trong quá trình phỏng vấn (có thể cải tiến để bảng câu hỏi hoàn thiện hơn, hoặc có thể thay đổi thứ tự câu hỏi).

Tuy nhiên thời gian phỏng vấn bị hạn chế vì người trả lời thường không sẵn lòng nói chuyện lâu qua điện thoại, nhiều khi người cần hỏi từ chối trả lời hay không có ở nhà…Không thể trình bày các mẫu minh hoạ về mẫu quảng cáo, tài liệu… để thăm dò ý kiến.

2.4. Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp (personal interviews)

Nội dung phương pháp:

Khi thực hiện phương pháp thu thập dữ liệu qua phỏng vấn cá nhân trực tiếp, nhân viên điều tra đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một bảng câu hỏi đã soạn sẵn.

Áp dụng khi hiện tượng nghiên cứu phức tạp, cần phải thu thập nhiều dữ liệu; khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanh được,…

Ưu – nhược điểm:

Do gặp mặt trực tiếp nên nhân viên điều tra có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra.

Tuy nhiên chi phí cao, mất nhiều thời gian và công sức.

2.5. Phương pháp điều tra nhóm cố định (panels)

Nội dung phương pháp:

Nhóm cố định là một mẫu nghiên cứu cố định gồm các con người, các hộ gia đình, các doanh nghiệp được thành lập để định kỳ trả lời các bảng câu hỏi qua hình thức phỏng vấn bằng điện thoại, bằng thư hay phỏng vấn cá nhân.

Mỗi thành viên trong nhóm cố định được giao một cuốn nhật ký để tự ghi chép các mục liên hệ (thu nhập, chi tiêu, giải trí,…) hoặc được giao một thiết bị điện tử gắn với ti vi để tự động ghi lại các thông tin về việc xem ti vi như chương trình nào, kênh nào, bao lâu, ngày nào,…

Nếu thành viên nhóm cố định là cửa hàng, siêu thị hay trung tâm thương mại thì sẽ được giao các thiết bị quét đọc điện tử để ghi lại chi tiết về số hàng hoá bán ra như: số lượng, chủng loại, giá cả…

Ưu – nhược điểm:

Chi phí rẻ do lặp lại nhiều lần một bảng câu hỏi theo mẫu lập sẵn. Giúp cho việc phân tích được tiến hành lâu dài và liên tục. Ví dụ: Nhờ theo dõi phản ứng của một người, một hộ hay một doanh nghiệp qua một thời gian dài; giúp cho việc đo lường được tác động của một số nhân tố đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó giúp ta dễ tìm ra tính quy luật trong tiêu dùng.

Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy tỷ lệ tham gia nhóm cố định chỉ đạt dưới 50%. Hạn chế do biến động trong nhóm (Do tự rút lui, do bị phá sản, ngưng hoạt động, do chuyển ngành, do qua đời, chuyển chỗ ở,…). Hạn chế về thái độ của nhóm cố định. Nếu ta cứ liên tục nghiên cứu về một số yếu tố cố định (như hỏi họ mua hàng hoá nhãn hiệu gì) thì sẽ gây tác động đến tác phong của họ làm sai lệch kết quả nghiên cứu.

2.6. Phương pháp điều tra nhóm chuyên đề (forcus groups)

Nội dung phương pháp:

Nhân viên điều tra tiến hành đặt câu hỏi phỏng vấn từng nhóm, thường từ 7 đến 12 người có am hiểu và kinh nghiệm về một vấn đề nào đó, để thông qua thảo luận tự do trong nhóm nhằm làm bật lên vấn đề ở nhiều khía cạnh sâu sắc, từ đó giúp cho nhà nghiên cứu có thể nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo và toàn diện.

Áp dụng trong việc xây dựng hay triển khai một bảng câu hỏi để sử dụng trong nghiên cứu định lượng về sau; làm cơ sở để tạo ra những giả thiết cần kiểm định trong nghiên cứu.

Ưu – nhược điểm:

Thu thập dữ liệu đa dạng, khách quan và khoa học. Tuy nhiên kết quả thu được không có tính đại diện cho tổng thể chung, chất lượng dữ liệu thu được hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ năng của người điều khiển thảo luận, các câu hỏi thường không theo một cấu trúc có sẵn nên khó phân tích xử lý.

 

123doc