Mẫu giáo án bàn tay nặn bột lớp 3 bài quả năm 2021

Mẫu giáo án bàn tay nặn bột lớp 3 bài quả năm 2021

Nội dung sau đây sẽ là các mẫu giáo án bàn tay nặn bột lớp 3 bài quả hay nhất năm 2021 đã được 123doc tham khảo và tổng hợp lại từ rất nhiều nguồn uy tín. Các bạn hãy đọc ngay những thông tin hữu ích này nhé. Minh hi vọng những mẫu giáo án này sẽ đem lại cho các bạn những kiến thức mà các bạn đang tìm kiếm. Chúc mọi người có một ngày thật vui vẻ.

 

Mẫu giáo án bàn tay nặn bột lớp 3 bài quả (Mẫu 1)

  1. Mục tiêu:Sau bài học, HS biết:
  • Quan sát, so sánh để tìm ra sự khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc và mùi vị của một số loại quả.
  • Kể tên các bộ phận thường có của một quả.
  • Nêu được chức năng của hạt và ích lợi của quả đối với đời sống con người.
  • HSK-G: Biết thêm có loại quả ăn được có loại quả không ăn được.
  • Giáo dục KNS: + Kĩ năng quan sát, so sánh để tìm ra sự khác nhau về đặc điểm bên ngoài của một số loại quả.

+ Tổng hợp, phân tích thông tin để biết chức năng và ích lợi của quả đối với đời sống thực vật và đời sống con người.

+ An toàn khi sử dụng đồ dùng( dao)

– Giáo dục BVMT: biết ích lợi của quả đối với đời sống con người, từ đó có ý thức trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh.

  1. Chuẩn bị:
  2. Đồ dùng dạy – học:
  • Hình ảnh một số loại quả. Dao nhỏ, đĩa, khăn lau.
  • Các loại quả do giáo viên và HS sưu tầm. Giấy khổ to
  • Nam châm – các băng giấy Bút dạ
  1. Phương pháp dạy – học:

– Phương pháp hỏi- đáp.

– Phương pháp thảo luận nhóm.

– Phương pháp bàn tay nặn bột.

III. Các hoạt động dạy – học:

  1. Khởi động:Cả lớp hát bài Quả
  2. Bài mới:

Giới thiệu bài: Trong bài hát các em vừa hát có những loại trái cây nào?

( Quả khế và quả mít)

Ngoài khế và mít ra em còn được biết thêm loại quả nào khác nữa mà có trong vườn nhà hoặc các em đã được ăn? ( 2- 3 HS kể)

GV: Có rất nhiều loại quả. Vậy quả có đặc điểm như thế nào? Chúng có vai trò gì đối với đời sống chúng ta. Các em cùng cô tìm hiểu qua bài học hôm nay( GV ghi đề bài)

Hoạt động 1: Sự đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc và mùi vị của các loại quả.

  • GV kiểm tra sự chuẩn bị các loại quả cảu HS
  • Yêu cầu HS để lên bàn các loại quả mà các em đã mang đến lớp.
  • HS hoạt động nhóm đôi nhóm nói cho nhau nghe về tên quả, hình dáng , độ lớn, màu sắc, mùi vị của các loại quả đó.
  • Đại diện các nhóm trình bày trước lớp.

Vậy qua tìm hiểu em nào biết các loại quả có đặc điểm gì khác nhau?

Gọi nhiều em trả lời trước lớp. ( các loại qur khác nhau về hình dạng , kích thước, màu sắc, mùi vị)

GV kết luận: Có nhiều loại quả, chúng khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc và mùi vị

– Gọi một số em nhắc lại kết luận

– GV đưa các hình ảnh minh họa các loại quả to nhỏ, dài tròn, đỏ xanh, cay ngọt…cho HS quan sát

Hoạt động 2: Các phần của quả

Bước 1: Tình huống xuất phát- câu hỏi nêu vấn đề

Như chúng ta đã biết có rất nhiều loại quả và chúng khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc và mùi vị . Vậy theo các em quả có đặc điểm gì chung? Và mỗi quả thường có mấy phần?

Để trả lời được câu hỏi này các em cùng cô tìm hiểu tiếp bài.(hđ 2: Các phần của quả)

Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS

  • HS làm việc cá nhân:

? Hãy suy nghĩ rồi viết hoặc vẽ vào vở thực hành để mô tả các phần của một loại quả.

Cho HS quan sát bài viết vẽ của một số bạn . Bây giờ cô yêu cầu các em làm việc theo nhóm cô đã phân công.

Các nhóm tự cử nhóm trưởng và thư ký để tập hợp dự kiến của các bạn trong nhóm

  • Thảo luận nhóm 6: Trình bày suy nghĩ của mình, thảo luận, thống nhất nội dung viết, vẽ mô tả các phần của một loại quả vào phiếu
Tên quả Cấu tạo
Chôm chôm Vỏ, thịt, hạt
Lạc Vỏ , hat,
Chuối Vỏ, thịt

Dự kiến: Nhóm 1: Nhóm 3:…

Nhóm 2… Nhóm 4:…

– Các nhóm dán phiếu của nhóm mình lên bảng lớp rồi cử đai diện nhóm trình bày ý kiến của nhóm mình

– Các nhóm khác theo dõi và nhận xét ý kiến của nhóm bạn.

GV : Cô thấy các nhóm hoạt động rất tích cực. Suy nghĩ của các em về các phần bên trong của quả khác nhau. Vậy em nào có câu hỏi thắc mắc muốn hỏi cô và các bạn.

Bước 3Đề xuất câu hỏi và phương án thực nghiệm

Từ dự kiến ban đầu, HS suy nghĩ đưa ra các câu hỏi rối đưa ra các câu hỏi thắc mắc

Gọi một số HS nêu ra các câu hỏi thắc mắc của mình. Gv ghi lên bảng.

Dự kiến các câu hỏi: * Trong hạt lạc có những gì?

* Quả chuối có hạt hay không?

* Tại sao chuối có quả có hạt có quả không?

* Táo có một hạt hay nhiều hạt?

* Yêu cầu đề xuất các phương án thực nghiệm nhằm tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi mà các em vừa nêu:

Theo em để trả lời cho những câu hỏi bạn vừa nêu này chúng ta phải làm gì?

( HS dự kiến các phương án thực nghiệm: Thực hành: bổ đôi quả ra để qs)

+ GV yêu cầu HS lựa chọn các phương án thích hợp nhất.

GV nhận xét các ý kiến đưa ra và thống nhất phương án với cả lớp là sẽ dùng dao bổ quả ra để quan sát, tìm hiểu các phần của một loại quả

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm:

  • Phát cho các nhóm dao nhỏ để các em tiến hành cắt đôi quả ra để quan sát
    * Lưu ý: Không cầm dao khi chưa thực hành. Khi bổ quả ta cầm dao ở đằng cán, không quay ngang, quay ngữa, cẩn thận khi cắt những quả có vỏ cứng. thực hành xong, lau dao và gói vào khăn như cũ rồi mang lên bàn cô .
  • Yêu cầu HS tiến hành bổ quả
  • GV quan sát đến từng nhóm giúp đỡ
  • Yêu cầu HS quan sát kĩ, viết hoặc vẽ để mô tả các phần của quả và ghi chú tên gọi các phần.
Xem thêm:  Tải adobe illustrator cs6 portable -6 Bước chi tiết nhất + Link tải mới nhất

Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức

Cho HS treo phiếu và trình bày kết quả của nhóm( Đại diện nhóm trình bày)

Yêu cầu các nhóm đối chiếu với các dự kiến ban đầu của nhóm, phát hiện những phần đúng, sai hay còn thiếu.

– Qua thực hành các em thấy quả có đặc điểm gì chung? Nhiều HS trả lời: Quả thường có 3 phần: Vỏ, thịt, hạt./Có loại quả chỉ có vỏ và hạt như quả lạc./Có loại quả chỉ có vỏ và thịt như chuối/….

Gv kết luận: Mỗi quả thường có 3 phần: Vỏ, thịt , hạt. một số quả chỉ có vỏ và thịt hoặc vỏ và hạt.

Các em đã biết về sự đa dạng của các loại quả và cấu tạo cảu quả. Vậy lợi ích của quả là gì chúng ta cùng tìm hiểu qua hoạt động 3

Hoạt động 3: Ích lợi của quả và chức năng của hạt.

Quả có lợi ích gì?( để ăn vì quả chứa nhiều chất bổ dưỡng)

Quả nào dùng để ăn tươi?( Cam, bưởi, táo, bơ, nho, chôm chôm,…)

Hãy kể tên một số quả dùng để chế biến làm thức ăn hằng ngày? ( Bầu , bí, su le, cà, mướp,…)

+ Quả nào dùng để ép dầu?( Mè, Đậu nành, đậu lạc,…)

Các loại quả mua về trước khi ăn ta phải làm gì?( Rửa sạch, ngâm nước muối, gọt vỏ,…)

* GV lưu ý thêm: Có một số loại quả có chứa các chất độc tố ta không ăn được như: cà độc dược, cao su, sầu đâu, quả củ đậu,…vì nếu ăn các loại quả này chúng ta bị ngộ độc và có thể gây chết người.

– Hạt có chức năng gì?( Hạt mọc thành cây con)

GV kết luận: Khi gặp điều kiện thích hợp, hạt sẽ mọc thành cây mới.

Phần này lên lớp trên các em sẽ được tìm hiểu kĩ về chức năng của hạt.

Qua bài học hôm nay em hiểu thêm được điều gì?(Gọi 3-5 em phát biểu ý kiến)

GV ghi bài học lên bảng

Bài học: Có nhiều loại quả, chúng khác nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc và mùi vị .Mỗi quả thường có : Vỏ, thịt , hạt. Khi gặp điều kiện thích hợp, hạt sẽ mọc thành cây mới.

Gọi 1 HS đọc lại.

  1. Củng cố – dặn dò:

– ? Để mùa nào cũng có quả ngọt mà ăn, chúng ta cần làm gì?( Thường xuyên trồng mới, chăm sóc, tưới cây. /Bảo vệ và chăm sóc cây trong vườn

– Nếu còn thời gian cho HS chơi trò chơi đố nhau về các loại quả:

VD: 1. Da cóc mà bọc bột lộc

Bột lọc mà bọc hòn than

Là quả nhãn

  1. Da cóc mà bộc trứng gà

Bổ ra thơm phức cả nhà muốn ăn

Là quả mít

3.Thân em chẳng thiếu, chẳng thừa

Chín vừa ngon ngọt, rất vừa lòng anh

Là quả đu đủ

  1. Có mắt mà chẳng có tai

Thịt trong thì trắng, vỏ ngoài thì xanh

Khi trẻ ngủ ở trên cành

Lúc già mở mắt hóa thành quả ngon

( Là quả na )

  1. Không phải núi mà có khe

Không phải bưởi mà có múi

Rõ ràng năm cánh

Mà chẳng phải sao

Sống ở trên cao

Chết vào nồi cá

( Là quả khế )

  1. có múi bằng số cánh sao
    có trong cổ tích ai nào đoán ra (quả khế)

-Dặn dò : Về quan sát các con vật nuôi trong nhà để tiết sau học bài động vật

 

Giáo án bàn tay nặn bột lớp 3 bài quả (Mẫu 2)

  1. Dự giờ

Môn : Tự nhiên và Xã hội lớp 3 bài 48: quả tại lớp 3A

Người dạy : Phạm Thị Huyền

  1. Một số nhận xét rút kinh nghiệm

* Đ/C Huyền nêu lại mục tiêu của tiết học

 * Ý kiến 1: đồng chí Châm

– Giáo viên thực hiện theo đúng chuẩn kiến thức kĩ năng, làm đúng thiết kế, có áp dụng thành tố vnen, có áp dụng pp nặn bột ở HĐ 2 tốt hiệu quả

– Họat động thầy trò nhịp nhàng.

-Hoạt động học sinh cuốn hút, tích cực học tập , nắm được bài.

* Ý kiến 2: đồng chí Quế

-Nhất trí các bước dạy của đồng chí Huyền.

-Các khía cạnh kiến thức đã làm được, học sinh tích cực học tập

– Dạy tích hợp qua các hoạt động học tập của học sinh đã có thể hiện sử dụng PP bàn tay nặn bột : Giáo viên đã giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường.

Ý kiến 3: đồng chí Hà

-Nhất trí với ý kiến của các đồng chí đã phát biểu:

+HĐ1: GV cho HS quan sát tranh một số hình ảnh .

+Các câu hỏi gợi mở, dễ hiểu giúp học sinh nắm bắt kiến thức dễ dàng

+Học sinh được hoạt động nhiều, được suy nghĩ nhiều, được tự trình bày ý kiến của mình nên h/s phấn khởi, hứng thú học hơn, tiếp thu kiến thức tốt hơn.

– HĐ2: Tìm hiểu bài ( Có sử dụng PP bàn tay nặn bột): giáo viên khai thác kênh hình kết hợp hs nghiên cứu thông tin trong sách giáo khoa giúp học sinh nắm bắt kiến thức tốt, học sinh hiểu bài và rút ra được bài học.

-Phần tìm hiểu bài  giáo viên đã giúp học sinh phân tích tìm ra những kết luận trong bài.

-Khi có kết quả hoạt động của nhóm đã cho đại diện từng nhóm nhận xét rồi GV nhận xét rồi chốt lại.

-Phần củng cố giáo viên cho cá nhân học sinh làm bài tập vận dụng tốt

– Các ý kiến khác nhất trí với các ý kiến của các đ/c đã phát biểu.

3.Chủ toạ kết luận:

-Nhận xét giờ dạy

Kiến thức: Dạy đủ, đúng kiến thức, kĩ năng cơ bản của bài; giảng dạy chính xác, có hệ thống, không thiếu xót; cách xử lý các tình huống xảy ra trong tiết học.

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đảm bảo nội dung giáo dục toàn diện (thái độ, tình cảm, thẩm mĩ..), lồng ghép, gắn với nội dung môn học; liên hệ giáo dục cho học sinh các phẩm chất, đức tính cần thiết, phù hợp với bài học.

Giáo viên tích hợp các vấn đề xung quanh học sinh vào bài học một cách cụ thể, rõ ràng dễ hiểu và mang lại tác dụng tốt với học sinh.

Giáo viên có các biện pháp tác động tới tất cả các em học sinh trong lớp để các em bộc lộ hết năng lực của bản thân, thâm gia tích cực vào bài dạy.

Kĩ năng sư phạm: Dạy đúng đặc trưng loại bài, bộ môn, các hoạt động tổ chức mang lại hiệu quả cao; vận dụng hình thức và phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh, phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của học sinh.

Khi đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh phải đảm bảo theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học; xử lý các tình uống sư phạm mang tính giáo duc cao; sử dụng các đồ dùng dạy học và thiết bị dạy học vào bài có hiệu quả cao. Tận dụng được các đồ dùng sẵn có, dễ làm, dễ kiếm tại địa phương.

Chữ viết trên bảng rõ ràng, mạch lạc; giọng nói phù hợp với các hoạt động trong bài dạy.

Giáo viên phân bố thời gian tiết học đảm bảo theo tiến trình giờ học. Tiết dạy đạt được mục tiêu bài học, phù hợp với thực tế của lớp.

Thái độ sư phạm: Giáo viên khích lệ, động viên học sinh kịp thời trong tiết học. Kịp thời giúp đỡ những học sinh gặp khó khăn trong học tập, tác phong có đảm bảo tính mô phạm. Trong giờ học học sinh được tông trọng đối xử công bằng như nhau.

Hiệu quả tiết dạy: Trong giờ học học sinh chủ động, tích cực tiếp thu bài. Vận dụng được kiến thức vào bài kiểm tra vận dụng sau tiết học đảm bảo. Vận dụng thành thục kiến thức bài học.

Cách dạy dạng: bài tìm có sử dụng PP bàn tay nặn bột

+ Hình thành kiến thức mới từ việc cho học sinh quan sát kênh hình, kênh chữ kết hợp với sự hiểu biết của HS trong thực tế . HS dự đoán rồi so sánh với vật thật để từ đó tìm ra kiến thức mới với những hình thức tổ chức học sinh hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

+ Củng cố kiến thức: Học sinh vận dụng kiến thức đã biết  để tìm ra kiến thức mới.

+Vận dụng kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng trong thực tế

+ Dạy theo 5 bước

Bước 1:Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
– Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách hấp dẫn nhập vào bài học.
Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với HS; nhằm lồng ghép câu
 hỏi nêu vấn đề.
– Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học; cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình
 độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. GV dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh( Hình thành biểu tượng ban đầu)
          Làm bộc lộ quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là bước quan trọng đặc trưng của PPBTNB. Trong bước này, GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học được kiến thức đó. Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy
nghĩ.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

(Tập trung vào mục tiêu)
          – Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của HS, GV giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học Sau khi chọn lọc các biểu tượng ban đầu của HS để ghi chép (đối với mô tả bằng lời) hoặc gắn hình vẽ lên bảng hoặc vẽ nhanh lên bảng (đối với hình vẽ), GV cần khéo léo gợi ý cho HS so sánh các điểm giống (đồng thuận giữa các ý kiến) hoặc khác nhau (không nhất trí giữa các ý kiến) các biểu tượng ban đầu. Từ những sự khác nhau cơ bản đó GV giúp HS đề xuất các câu hỏi. Sau khi giúp HS so sánh và gợi ý để HS phân nhóm các ý kiến ban đầu, GV hướng dẫn HS đặt các câu hỏi nghi vấn.
– Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực
 nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi có thể là: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.
Lưu ý phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu ở đây được hiểu là cá
 phương án để tìm ra câu trả lời. Có nhiều PP như quan sát, thực hành, thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, …

Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
– Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu.
– Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS
 cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành. Sau đó GV phát cho HS các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với các hoạt động.
– Mỗi thí nghiệm
 HS phải được làm  thực hiện xong, GV nên dừng lại để HS rút ra kết luận. GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.
GV chú ý yêu cầu HS thực hiện độc lập các thí nghiệm (theo cá nhân hoặc nhóm) để
 tránh việc HS nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho GV phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm.
* Lưu ý: Trong quá trình HS vẽ hình và thực hiện thí nghiệm, nếu sách giáo khoa có
 hình vẽ tương ứng thì không cho HS mở sách để tránh việc các em không quan sát mà chỉ sao chép lại hình vẽ trong sách ra vở thí nghiệm.
Bước 5: Kết luận và hợp thức hoá kiến thức
(Kết luận, kiểm chứng)
Sau khi khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần dược giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như là kiến
 thức của bài học. Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm. GV khắc sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại các ý kiến ban đầu (bước 2). Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt. Chính HS tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ một cách lâu hơn, khắc sâu kiến thức.

 

Xem thêm:  Mẫu biểu cảm về dòng sông năm 2021

1. Nội dung bài áp dụng phư­ơng pháp Bàn tay nặn bột

– Tìm hiểu về màu sắc, hình dạng, kích th­ước và cấu tạo của lá cây.

2. Mục tiêu hoạt động

– Kiến thức: – HS biết đ­ược sự đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích th­ước và cấu tạo của lá cây.

– Kĩ năng: HS nêu đ­ược sự khác nhau về màu sắc, hình dạng, kích th­ước của lá cây; nêu đư­ợc cấu tạo của lá cây.

3. Ph­ương pháp tìm tòi

– Ph­ương pháp quan sát vật thật.

4. Đồ dùng dạy học

– GV cùng HS sưu tầm các loại lá cây khác nhau với các màu sắc, hình dạng, kích th­ước khác nhau.

– Các hình trang 86, 87 (SGK)

5. Tiến trình đề xuất

a. Đư­a ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề.

GV nêu câu hỏi: – Trình bày những hiểu biết của em về màu sắc, hình dạng, kích th­ước và cấu tạo của lá cây.

b. Làm bộc lộ những biểu t­ượng ban đầu của HS

GV yêu cầu HS mô tả bằng hình vẽ ( hoặc bằng lời ) những những hiểu biết ban đầu vào vở Ghi chép khoa học sau đó thảo luận nhóm thống nhất ý kiến để trình bày vào bảng nhóm.

c. Đề xuất câu hỏi( dự đoán/ giả thuyết) và ph­ương án tìm tòi

– HS nêu các câu hỏi thắc mắc, GV lựa chọn và ghi vào bảng lớp các câu hỏi sau:

Xem thêm:  Premiere cs6 portable -15 Bước chi tiết nhất + Link tải mới nhất

+ Lá cây có những hình dạng gì?

+ Kích thước của các loại lá cây như thế nào?

+ Lá cây th­ường có màu sắc gì? Màu nào là phổ biến?

+ Lá cây có cấu tạo nh­ư thế nào?

– GV tổ chức cho HS thảo luận, đề xuất phương án tìm tòi để tìm hiểu về hình dạng, màu sắc, kích thước và cấu tạo của lá cây.

( HS có thể đề xuất nhiều các khác nhau như: tìm hiểu lá cây qua hỏi người lớn, hỏi bạn, quan sát qua tranh ảnh, sách báó, qua mạng Internet, quan sát lá cây thật,…) GV nên chọn cách quan sát mẫu vật thật mà các em sưu tầm được.

d. Thực hiện ph­ương án tìm tòi

– GV ghi bảng phương pháp quan sát.

– GV yêu cầu HS ghi dự đoán vào vở Ghi chép khoa học với 4 mục: Câu hỏi, dự đoán, cách tiến hành, kết luận rút ra.

– HS tiến hành theo nhóm 4 quan sát các loại lá cây tìm câu trả lời và điền thông tin các mục còn lại trong vở Ghi chép khoa học sau khi nghiên cứu tài liệu.

– GV tổ chức các nhóm báo cáo kết quả ghi vào vở.

e. Kết luận kiến thức

– GV cho các nhóm báo các kết quả sau khi tiến hành nghiên cứu tài liệu( HS có thể tìm ra được: lá cây có nhiều hình dạng và độ lớn khác nhau; lá cây thường có màu xanh lục, một số ít có màu đỏ hoặc vàng; lá cây thường có cuống lá, phiến lá, trên phiến lá có gân lá).

– GV hướng dẫn HS đối chiếu, so sánh lại với các hình vẽ (suy nghĩ, biểu tượng) ban đầu của HS ở bước b( làm bộc lộ biểu tượng ban đầu), để khắc sâu kiến thức.

GV kết luận: ( SGK trang 87)

-Lá cây thường có màu xanh lục, một số ít có màu đỏ hoặc vàng.

– Mỗi chiếc lá thường có cuống lá, phiến lá; trên phiến lá có gân lá.

-Lá cây có nhiều hình dạng và độ lớn khác nhau.

* GV nhận xét tiết học, dặn dò HS chuẩn bị cho tiết sau.

123doc